Ngân hàng UOB điều chỉnh triển vọng xuất khẩu sang Mỹ, VND có thể phục hồi từ quý IV

Ánh Tuyết
Ngân hàng UOB vừa điều chỉnh triển vọng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ năm 2025, với kỳ vọng tăng nhẹ 5% thay vì giảm như dự báo trước đó, nhờ tác động tích cực từ thỏa thuận thuế quan ban đầu và kéo tăng trưởng GDP thêm 0,9 điểm phần trăm. Dự báo sang quý IV, VND có thể phục hồi theo xu hướng chung tại châu Á khi bất ổn thương mại dần hạ nhiệt.
aa
Lý giải VND đi ngược xu hướng phục hồi của nhiều đồng tiền Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt mức tăng trưởng ấn tượng Mỹ tuyên bố mức áp thuế với Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác

Ngày 8/7, Bộ phận Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu thuộc Ngân hàng UOB (Singapore) vừa công bố báo cáo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý II/2025.

Giai đoạn tồi tệ nhất có thể đã qua

Báo cáo do Ngân hàng UOB công bố cho thấy, GDP thực tế của Việt Nam trong quý II/2025 phục hồi mạnh mẽ, đạt mức tăng 7,96% so với cùng kỳ, vượt xa so với dự báo của Bloomberg là 6,85% và dự báo của nhóm phân tích là 6,1%. Tính chung nửa đầu năm 2025, kinh tế Việt Nam tăng trưởng 7,52% so với cùng kỳ, đây là mức tăng mạnh nhất trong nửa đầu năm kể từ khi có số liệu từ năm 2011.

"Mức tăng trưởng vượt trội của Việt Nam trong nửa đầu năm chủ yếu đến từ hoạt động xuất khẩu được thúc đẩy trước thời hạn áp thuế, tăng mạnh 14% so với cùng kỳ, trong bối cảnh tâm lý thị trường phục hồi sau khi Tổng thống Mỹ Trump rút lại tuyên bố áp thuế vào “Ngày Giải phóng” ngày 2/4 và thay vào đó áp dụng mức thuế cơ bản đồng đều 10% đối với tất cả các đối tác thương mại trong vòng 90 ngày tiến hành đàm phán thuế" - nhóm phân tích đánh giá.

Ngân hàng UOB điều chỉnh triển vọng xuất khẩu sang Mỹ, VND có thể phục hồi từ quý IV
Ngân hàng UOB điều chỉnh triển vọng xuất khẩu sang Mỹ, VND có thể phục hồi từ quý IV. Ảnh: T.L.

Với Việt Nam, điểm tích cực là vào ngày 2/7, Tổng thống Trump đưa ra tuyên bố ban đầu về việc áp mức thuế 20% với hàng nhập khẩu từ Việt Nam vào Mỹ và 40% đối với hàng trung chuyển. Dù vẫn là mức thuế đáng kể, con số này thấp hơn nhiều so với mức 46% ban đầu công bố ngày 2/4 và được xem là một sự giảm nhẹ đáng kể cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Hiện vẫn chưa có thông tin chi tiết nào về thỏa thuận thương mại giữa hai bên và cả hai chính phủ cũng chưa có thông báo chính thức.

Dự báo xuất khẩu sang Mỹ vẫn tăng 5%

"Dựa trên mức thuế mới, chúng tôi điều chỉnh lại giả định về triển vọng xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2025, so với kịch bản đã nêu trong báo cáo “Việt Nam: GDP quý 1 bị lu mờ bởi thuế quan của Trump, ngày 7/4”. Cụ thể, chúng tôi hiện dự báo xuất khẩu sang Mỹ sẽ tăng nhẹ 5% (so với mức tăng 23% trong năm 2024), thay vì giảm 20% như ước tính trước đó sau tuyên bố Ngày Giải phóng" - Ngân hàng UOB đánh giá.

Một điểm then chốt trong đàm phán là cách xác định rõ ràng thế nào là “hàng trung chuyển”. Trong trường hợp này, trọng tâm thảo luận giữa hai nước nhiều khả năng sẽ xoay quanh quy tắc xuất xứ, cụ thể là tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa để một sản phẩm được công nhận là “sản xuất tại Việt Nam”.

Nếu Mỹ yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa cao hơn, chẳng hạn 40 - 50% hoặc thậm chí cao hơn, điều này có thể gây bất lợi cho ngành sản xuất non trẻ của Việt Nam, vốn dựa vào lực lượng lao động dồi dào với chi phí thấp, thay vì công nghệ sản xuất tiên tiến.

"Ngược lại, nếu mức yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa chỉ ở mức 20 - 30% hoặc thấp hơn, đây sẽ là tín hiệu tích cực, cho phép hoạt động kinh doanh tiếp tục ổn định mà ít bị gián đoạn" - Ngân hàng UOB nhận định.

Rạng sáng 8/7 (giờ Việt Nam), Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố tổng cộng 14 bức thư tới các quốc gia liên quan, thông báo rằng mức thuế nhập khẩu cao hơn đáng kể của Mỹ sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8, với thuế suất từ 25 - 40%.

Theo đánh giá của Ngân hàng UOB, Việt Nam đặc biệt dễ bị tổn thương trước các căng thẳng thương mại do tính chất mở của nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ chiếm tới 83% GDP của Việt Nam, cao thứ hai trong khu vực ASEAN, chỉ sau Singapore (182%); đồng thời Việt Nam có mức độ phụ thuộc lớn vào thị trường Mỹ.

Dựa trên thoả thuận về thuế ban đầu với Việt Nam, Ngân hàng UOB kỳ vọng xuất khẩu sẽ tăng 10% với các thị trường ngoài Mỹ, tương đương mức tăng 11,3% trong năm 2024. Tổng thể, xuất khẩu của Việt Nam dự kiến sẽ chỉ tăng 8,5% trong năm 2025, thấp hơn đáng kể so với mức 14% của năm trước.

Với các giả định này, sau khi tính đến tác động đối với sản xuất và dòng vốn FDI, ước tính tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2025 sẽ cao hơn 0,9 điểm phần trăm so với dự báo cơ sở ban đầu. Do đó, nhóm phân tích điều chỉnh tăng dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2025 thêm 0,9 điểm phần trăm lên mức 6,9% (so với dự báo trước đó là 6%). Trong điều kiện này, dòng vốn FDI thực hiện dự kiến sẽ đạt khoảng 20 tỷ USD trong năm nay.

Có thể cân nhắc nới lỏng chính sách tiền tệ

Với lạm phát tổng thể và lạm phát cơ bản vẫn dưới mục tiêu chính thức 4,5% trong nửa đầu năm 2025 và phần lớn năm 2024, Bộ phận Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu thuộc Ngân hàng UOB cho rằng, Ngân hàng Nhà nước có khả năng sẽ cân nhắc nới lỏng chính sách tiền tệ. Tuy nhiên, diễn biến trên thị trường ngoại hối cũng là một yếu tố quan trọng mà Ngân hàng Nhà nước cần xem xét.

Ngân hàng UOB điều chỉnh triển vọng xuất khẩu sang Mỹ, VND có thể phục hồi từ quý IV
Nguồn: Ngân hàng UOB.

"VND giảm giá trong nửa đầu năm 2025, giảm 2,5% so với đồng USD. Ngược lại, các đồng tiền trong khu vực được hưởng lợi từ sự suy yếu của USD, với mức tăng dao động từ 12% đối với TWD (Đồng đô la Đài Loan) đến 2,5% đối với CNH (Nhân dân tệ) trong cùng thời điểm

Bên cạnh đó, kết quả tăng trưởng tích cực của nền kinh tế nói chung có thể đã làm giảm áp lực phải nới lỏng chính sách. Do vậy, kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách hiện tại, với lãi suất tái cấp vốn được duy trì ở mức 4,5.

Tuy nhiên, nếu tình hình kinh doanh trong nước và thị trường lao động chịu ảnh hưởng đáng kể trong 1 - 2 quý tới, có thể Ngân hàng Nhà nước sẽ hạ lãi suất chính sách một lần xuống mức thấp trong thời kỳ Covid-19 là 4% và tiếp theo là một đợt giảm 50 điểm cơ bản xuống còn 3,5%, với điều kiện thị trường ngoại hối ổn định và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) bắt đầu thực hiện các đợt cắt giảm lãi suất./.

VND sẽ phục hồi theo đà chung khi bất ổn thương mại dần hạ nhiệt

"Chúng tôi dự báo đồng VND sẽ duy trì gần mức thấp trong biên độ giao dịch so với đồng USD cho đến hết quý III/2025. Tuy nhiên, sang quý IV/2025, VND có thể bắt đầu phục hồi phù hợp với xu hướng hồi phục chung của các đồng tiền châu Á khi những bất ổn thương mại giảm bớt. Dự báo tỷ giá USD/VND cập nhật của chúng tôi là: 26.400 trong quý III/2025, 26.200 trong quý IV/2025, 26.000 trong quý I/2026 và 25.800 trong quý II/2026" - Ngân hàng UOB dự báo.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80