Biên lãi ròng thu hẹp, ngân hàng căng mình giữ nhịp sinh lời

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Biên lãi ròng (NIM) của nhiều ngân hàng tiếp tục chịu áp lực suy giảm trong quý I/2025, có nhà băng ghi nhận mức NIM thấp nhất kể từ năm 2017, dù tín dụng vẫn tiếp đà tăng. Các ngân hàng tìm cách nỗ lực giữ nhịp NIM, trong khi tiếp tục đồng hành triển khai các gói vay ưu đãi dù khiến hiệu quả sinh lời bị bào mòn.
aa
Biên lãi ròng thu hẹp, ngân hàng căng mình giữ nhịp sinh lời
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước có những chỉ đạo quyết liệt nhằm kéo giảm mặt bằng lãi suất. Ảnh minh họa

Theo phân tích của ông Ngô Hoàng Long - Giám đốc Trung tâm phân tích Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS), NIM trong quý I/2025 khá ảm đạm, chỉ có MB và TPBank ghi nhận mức NIM tương đối ổn; HDBank và VPBank ghi nhận mức NIM không quá tệ.

Tăng trưởng tín dụng giữ nhịp, biên lãi ròng suy giảm

Cũng theo nhóm phân tích, với 11 ngân hàng nằm trong phạm vi nghiên cứu (riêng HDBank và VPBank dựa trên số liệu riêng lẻ) của VPBankS, tăng trưởng tín dụng đạt 3,3% trong quý I/2025, cao hơn mức 2,1% của quý I/2024 nhưng vẫn thấp hơn mức 4,5% của quý I/2023. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự tăng trưởng này là lợi suất tài sản sinh lãi (IEA yield) giảm trung bình 68 điểm cơ bản so với cùng kỳ, trong khi chi phí vốn (CoF) chỉ giảm 20 điểm cơ bản.

NIM sẽ chịu nhiều sức ép

"NIM là một trong những chỉ số quan trọng để đo lường hiệu quả hoạt động, bên cạnh nhiều chỉ số khác. Trong quý IV/2024, NIM hợp nhất của VietinBank đạt 2,92%, cao hơn cùng kỳ và mức bình quân cả năm 2023. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thực tế rằng NIM trong năm 2025 sẽ chịu áp lực giảm, do chi phí vốn có xu hướng tăng, trong khi chúng tôi vẫn tiếp tục triển khai các gói tín dụng ưu đãi và chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, người dân theo chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, chắc chắn NIM sẽ có những tác động nhất định trong năm tới" - ông Lê Thanh Tùng, thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank đánh giá.

Do đó, NIM chịu áp lực mạnh, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quốc doanh, với Vietcombank ghi nhận NIM năm chỉ còn 2,6%. Còn nhóm ngân hàng tư nhân ghi nhận kết quả không đồng đều, trong đó, đáng chú ý, ACB và Techcombank lần lượt đạt mức NIM bình quân theo quý thấp nhất, kể từ năm 2017 đến nay.

Theo đại diện VPBankS, sở dĩ tại một số ngân hàng, NIM thu hẹp, một phần do các ngân hàng lựa chọn chia sẻ lợi nhuận và trách nhiệm với nền kinh tế bằng cách cung cấp các gói tín dụng với lãi suất hợp lý, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Trái với xu hướng suy giảm NIM kể trên, theo phân tích của VPBankS, MB và TPBank là hai ngân hàng có kết quả khả quan nhất, trong đó, MB giữ nguyên NIM so với quý trước ở mức 4,2%, còn TPBank tăng 30 điểm cơ bản lên 3,5%.

Một điểm đáng quan tâm khác là hiệu suất NIM của VPBank (số liệu riêng lẻ), nếu tăng trưởng huy động trong quý I/2025 đạt tương ứng với tăng trưởng cho vay thì mức giảm NIM theo quý sẽ chỉ là 15 điểm cơ bản so với quý trước, thay vì 25 điểm cơ bản thực tế. Bởi thực tế, tiền gửi tăng 14,1% trong khi cho vay chỉ tăng 6,3%.

Cũng theo thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam, NIM của tổng cộng 27 ngân hàng giảm 45 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống còn 3,1% trong quý I/2025, chủ yếu do lợi suất tài sản giảm. Trong đó, phần lớn ngân hàng ghi nhận NIM giảm trong quý I/2025.

Dù nhà điều hành đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 ở mức 16%, mức cao nhất trong 7 năm trở lại đây, nhưng sự suy giảm trong tỷ suất sinh lợi trên tài sản đang cản trở đà phục hồi của NIM trong quý II/2025.

Tìm dư địa giữ NIM trong vòng xoáy khó khăn

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có những chỉ đạo quyết liệt nhằm kéo giảm mặt bằng lãi suất. Trong đó, lãi suất huy động, vốn là nền tảng để xác định lãi suất cho vay, được điều chỉnh giảm nhằm hướng đến mục tiêu ổn định và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Định hướng điều hành hiện vẫn thiên về nới lỏng chính sách tiền tệ để tạo điều kiện thuận lợi cho dòng tín dụng chảy vào nền kinh tế.

Chia sẻ gần đây, ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank cho rằng, năm 2025, tình hình sẽ khó khăn hơn rất nhiều, khi chính sách thắt chặt tiền tệ của Mỹ và các biến động toàn cầu gia tăng.

Áp lực điều hành đối với Chính phủ, NHNN và toàn hệ thống tổ chức tín dụng chắc chắn sẽ gia tăng trong thời gian tới.

Trong bối cảnh đó, VietinBank cam kết tiếp tục bám sát định hướng của cơ quan quản lý nhằm giữ ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, trong khi từng bước cải thiện NIM thông qua các giải pháp đồng bộ.

Theo đó, ngân hàng sẽ tập trung kiểm soát chi phí vốn bằng cách đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mở rộng tệp khách hàng có tiềm năng sinh lời cao, triển khai các dự án nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản, tăng cường hiệu quả bán chéo và điều hành cân đối nguồn vốn một cách linh hoạt. Đặc biệt, việc kiểm soát chất lượng tài sản tiếp tục được ưu tiên hàng đầu, bởi chi phí trích lập dự phòng vẫn là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh.

Lãnh đạo TPBank cũng cho biết, khi tín dụng tăng trưởng mạnh, nhiều ngân hàng đẩy mạnh giải ngân, dẫn tới mặt bằng lãi suất cho vay có xu hướng giảm để thu hút khách hàng. Trong khi đó, hoạt động ngân hàng phải tuân thủ hệ thống các chỉ tiêu giám sát chặt chẽ và phức tạp. Việc huy động vốn kỳ hạn ngắn thường có chi phí rẻ hơn, nhưng lại làm giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn - một chỉ tiêu quan trọng trong quản trị rủi ro thanh khoản. Đồng thời, các ngân hàng cũng bị ràng buộc bởi yêu cầu duy trì hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), muốn cho vay ra nhiều cũng không được. Bên cạnh đó, cũng chịu giới hạn bởi tăng trưởng tín dụng do NHNN phân bổ, khiến dư địa mở rộng cho vay trở nên hạn chế.

Trước áp lực lớn, để giữ được biên lợi nhuận, TPBank định hướng cải thiện hiệu quả hoạt động thông qua hai trụ cột chính, đó là nâng tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn CASA giúp giảm giá vốn và cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng tối ưu hơn. Việc duy trì biên lợi nhuận ở mức hợp lý, đẩy mạnh các nguồn thu ngoài lãi và kiểm soát hiệu quả chi phí vận hành sẽ giúp ngân hàng hoàn thành mục tiêu lợi nhuận trong năm nay.

Tiếp đà hạ lãi suất, mở rộng nhiều chương trình tín dụng ưu đãi

Theo ghi nhận của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục duy trì xu hướng giảm. Các tổ chức tín dụng chủ động công bố thông tin về lãi suất cho vay trên website chính thức, nhằm tăng cường minh bạch và tạo thuận lợi cho khách hàng trong quá trình tiếp cận nguồn vốn.

Tính đến giữa tháng 4/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay phát sinh mới của các ngân hàng thương mại đạt mức 6,34%/năm, giảm 0,6 điểm phần trăm so với cuối năm 2024. Trước đó, lãi suất cho vay giảm lần lượt 0,59% năm 2024 và 2,5% trong năm 2023.

Song song đó, hệ thống ngân hàng triển khai quyết liệt nhiều chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Một số chương trình phát huy hiệu quả rõ rệt và được mở rộng quy mô nhiều lần, điển hình như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản tăng từ 15.000 tỷ đồng lên 30.000 tỷ đồng, sau đó 60.000 tỷ đồng và hiện đạt 100.000 tỷ đồng.

Cùng với đó là triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long; hay chương trình tín dụng dành cho dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP, với quy mô hiện đã được nâng lên 145.000 tỷ đồng. Chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng và công nghệ số có quy mô khoảng 500.000 tỷ đồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 21/10: Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, thế giới lùi về 4.132 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với vàng miếng giảm 200.000 - 500.000 đồng/lượng và vàng nhẫn giảm 200.000 - 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng thế giới cũng mất gần 11 USD/ounce, lùi về 4.132 USD/ounce.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Giảm lãi suất không cào bằng, nhiều ngân hàng tung gói vay ưu đãi chỉ từ 6%/năm

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đề nghị các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay thực chất, không cào bằng mà cần lựa chọn đúng đối tượng. Nhiều ngân hàng nhanh chóng công bố các gói tín dụng ưu đãi, giảm lãi suất cho vay tới 2%, với mức lãi suất từ 6%/năm, đồng thời chấp nhận giảm thu nhập để hỗ trợ doanh nghiệp.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Hà Nội - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Miền Tây - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,400 ▼100K 141,400 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,930 ▼30K 14,230 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,830 ▼40K 14,230 ▼20K
NL 99.99 13,150 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼50K
Trang sức 99.9 13,510 ▼20K 14,110 ▼20K
Trang sức 99.99 13,520 ▼20K 14,120 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,393 ▼3K 14,232 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,393 ▼3K 14,233 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,374 ▼3K 1,409 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,374 ▼3K 141 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,354 ▼3K 1,399 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,515 ▼297K 138,515 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,285 ▼226K 105,085 ▼226K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,492 ▼204K 95,292 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,698 ▼183K 85,498 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,192 ▼64903K 8,172 ▼73723K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,694 ▼125K 58,494 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,393 ▼3K 1,423 ▼3K
Cập nhật: 21/10/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18452
CAD 17870 18144 18756
CHF 30700 31076 31722
CNY 0 3832 3927
EUR 28420 28636 29710
GBP 33800 34189 35129
HKD 0 3166 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14365 14955
SGD 19713 19994 20560
THB 685 748 800
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26059
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,690 25,690 26,070
USD(1-2-5) 24,663 - -
USD(10-20) 24,663 - -
EUR 28,479 28,502 29,857
JPY 158.96 159.25 168.89
GBP 33,975 34,067 35,261
AUD 17,809 17,873 18,552
CAD 18,055 18,113 18,784
CHF 30,929 31,025 31,964
SGD 19,824 19,886 20,676
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.97 18.74 20.39
THB 733.02 742.07 794.83
NZD 14,366 14,499 14,930
SEK - 2,566 2,658
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,925.73 - 6,687.29
TWD 715.69 - 867.13
SAR - 6,780.49 7,143.39
KWD - 81,747 86,992
AED - 6,791 7,318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,458 28,601 29,825
GBP 33,958 34,129 35,165
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,780 30,935 31,878
JPY 158.61 160.21 168.19
AUD 17,768 17,893 18,491
SGD 19,804 19,984 20,579
THB 738 753 790
CAD 18,016 18,143 18,742
NZD 14,447 15,004
KRW 18.83 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25650 25680 26060
AUD 17800 17900 18835
CAD 18049 18149 19163
CHF 30924 30954 32536
CNY 3815.1 3840.1 3975.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28600 28630 30355
GBP 34107 34157 35915
HKD 0 3300 0
JPY 159.95 160.45 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14489 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19867 19997 20722
THB 0 714.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,584 25,704 26,000
USD20 25,554 25,704 26,000
USD1 25,534 25,704 26,000
AUD 17,876 17,976 19,081
EUR 28,399 28,499 29,970
CAD 18,000 18,100 19,406
SGD 19,943 20,093 20,910
JPY 160.47 161.97 167.53
GBP 33,996 34,146 35,460
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,793 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/10/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30