Biên lãi ròng thu hẹp, ngân hàng căng mình giữ nhịp sinh lời

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Biên lãi ròng (NIM) của nhiều ngân hàng tiếp tục chịu áp lực suy giảm trong quý I/2025, có nhà băng ghi nhận mức NIM thấp nhất kể từ năm 2017, dù tín dụng vẫn tiếp đà tăng. Các ngân hàng tìm cách nỗ lực giữ nhịp NIM, trong khi tiếp tục đồng hành triển khai các gói vay ưu đãi dù khiến hiệu quả sinh lời bị bào mòn.
aa
Biên lãi ròng thu hẹp, ngân hàng căng mình giữ nhịp sinh lời
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước có những chỉ đạo quyết liệt nhằm kéo giảm mặt bằng lãi suất. Ảnh minh họa

Theo phân tích của ông Ngô Hoàng Long - Giám đốc Trung tâm phân tích Công ty Chứng khoán VPBank (VPBankS), NIM trong quý I/2025 khá ảm đạm, chỉ có MB và TPBank ghi nhận mức NIM tương đối ổn; HDBank và VPBank ghi nhận mức NIM không quá tệ.

Tăng trưởng tín dụng giữ nhịp, biên lãi ròng suy giảm

Cũng theo nhóm phân tích, với 11 ngân hàng nằm trong phạm vi nghiên cứu (riêng HDBank và VPBank dựa trên số liệu riêng lẻ) của VPBankS, tăng trưởng tín dụng đạt 3,3% trong quý I/2025, cao hơn mức 2,1% của quý I/2024 nhưng vẫn thấp hơn mức 4,5% của quý I/2023. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho sự tăng trưởng này là lợi suất tài sản sinh lãi (IEA yield) giảm trung bình 68 điểm cơ bản so với cùng kỳ, trong khi chi phí vốn (CoF) chỉ giảm 20 điểm cơ bản.

NIM sẽ chịu nhiều sức ép

"NIM là một trong những chỉ số quan trọng để đo lường hiệu quả hoạt động, bên cạnh nhiều chỉ số khác. Trong quý IV/2024, NIM hợp nhất của VietinBank đạt 2,92%, cao hơn cùng kỳ và mức bình quân cả năm 2023. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thực tế rằng NIM trong năm 2025 sẽ chịu áp lực giảm, do chi phí vốn có xu hướng tăng, trong khi chúng tôi vẫn tiếp tục triển khai các gói tín dụng ưu đãi và chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, người dân theo chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Vì vậy, chắc chắn NIM sẽ có những tác động nhất định trong năm tới" - ông Lê Thanh Tùng, thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank đánh giá.

Do đó, NIM chịu áp lực mạnh, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quốc doanh, với Vietcombank ghi nhận NIM năm chỉ còn 2,6%. Còn nhóm ngân hàng tư nhân ghi nhận kết quả không đồng đều, trong đó, đáng chú ý, ACB và Techcombank lần lượt đạt mức NIM bình quân theo quý thấp nhất, kể từ năm 2017 đến nay.

Theo đại diện VPBankS, sở dĩ tại một số ngân hàng, NIM thu hẹp, một phần do các ngân hàng lựa chọn chia sẻ lợi nhuận và trách nhiệm với nền kinh tế bằng cách cung cấp các gói tín dụng với lãi suất hợp lý, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Trái với xu hướng suy giảm NIM kể trên, theo phân tích của VPBankS, MB và TPBank là hai ngân hàng có kết quả khả quan nhất, trong đó, MB giữ nguyên NIM so với quý trước ở mức 4,2%, còn TPBank tăng 30 điểm cơ bản lên 3,5%.

Một điểm đáng quan tâm khác là hiệu suất NIM của VPBank (số liệu riêng lẻ), nếu tăng trưởng huy động trong quý I/2025 đạt tương ứng với tăng trưởng cho vay thì mức giảm NIM theo quý sẽ chỉ là 15 điểm cơ bản so với quý trước, thay vì 25 điểm cơ bản thực tế. Bởi thực tế, tiền gửi tăng 14,1% trong khi cho vay chỉ tăng 6,3%.

Cũng theo thống kê của Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam, NIM của tổng cộng 27 ngân hàng giảm 45 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống còn 3,1% trong quý I/2025, chủ yếu do lợi suất tài sản giảm. Trong đó, phần lớn ngân hàng ghi nhận NIM giảm trong quý I/2025.

Dù nhà điều hành đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 ở mức 16%, mức cao nhất trong 7 năm trở lại đây, nhưng sự suy giảm trong tỷ suất sinh lợi trên tài sản đang cản trở đà phục hồi của NIM trong quý II/2025.

Tìm dư địa giữ NIM trong vòng xoáy khó khăn

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có những chỉ đạo quyết liệt nhằm kéo giảm mặt bằng lãi suất. Trong đó, lãi suất huy động, vốn là nền tảng để xác định lãi suất cho vay, được điều chỉnh giảm nhằm hướng đến mục tiêu ổn định và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Định hướng điều hành hiện vẫn thiên về nới lỏng chính sách tiền tệ để tạo điều kiện thuận lợi cho dòng tín dụng chảy vào nền kinh tế.

Chia sẻ gần đây, ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank cho rằng, năm 2025, tình hình sẽ khó khăn hơn rất nhiều, khi chính sách thắt chặt tiền tệ của Mỹ và các biến động toàn cầu gia tăng.

Áp lực điều hành đối với Chính phủ, NHNN và toàn hệ thống tổ chức tín dụng chắc chắn sẽ gia tăng trong thời gian tới.

Trong bối cảnh đó, VietinBank cam kết tiếp tục bám sát định hướng của cơ quan quản lý nhằm giữ ổn định mặt bằng lãi suất huy động và cho vay, trong khi từng bước cải thiện NIM thông qua các giải pháp đồng bộ.

Theo đó, ngân hàng sẽ tập trung kiểm soát chi phí vốn bằng cách đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, mở rộng tệp khách hàng có tiềm năng sinh lời cao, triển khai các dự án nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản, tăng cường hiệu quả bán chéo và điều hành cân đối nguồn vốn một cách linh hoạt. Đặc biệt, việc kiểm soát chất lượng tài sản tiếp tục được ưu tiên hàng đầu, bởi chi phí trích lập dự phòng vẫn là yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh.

Lãnh đạo TPBank cũng cho biết, khi tín dụng tăng trưởng mạnh, nhiều ngân hàng đẩy mạnh giải ngân, dẫn tới mặt bằng lãi suất cho vay có xu hướng giảm để thu hút khách hàng. Trong khi đó, hoạt động ngân hàng phải tuân thủ hệ thống các chỉ tiêu giám sát chặt chẽ và phức tạp. Việc huy động vốn kỳ hạn ngắn thường có chi phí rẻ hơn, nhưng lại làm giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn - một chỉ tiêu quan trọng trong quản trị rủi ro thanh khoản. Đồng thời, các ngân hàng cũng bị ràng buộc bởi yêu cầu duy trì hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR), muốn cho vay ra nhiều cũng không được. Bên cạnh đó, cũng chịu giới hạn bởi tăng trưởng tín dụng do NHNN phân bổ, khiến dư địa mở rộng cho vay trở nên hạn chế.

Trước áp lực lớn, để giữ được biên lợi nhuận, TPBank định hướng cải thiện hiệu quả hoạt động thông qua hai trụ cột chính, đó là nâng tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn CASA giúp giảm giá vốn và cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng tối ưu hơn. Việc duy trì biên lợi nhuận ở mức hợp lý, đẩy mạnh các nguồn thu ngoài lãi và kiểm soát hiệu quả chi phí vận hành sẽ giúp ngân hàng hoàn thành mục tiêu lợi nhuận trong năm nay.

Tiếp đà hạ lãi suất, mở rộng nhiều chương trình tín dụng ưu đãi

Theo ghi nhận của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), mặt bằng lãi suất cho vay tiếp tục duy trì xu hướng giảm. Các tổ chức tín dụng chủ động công bố thông tin về lãi suất cho vay trên website chính thức, nhằm tăng cường minh bạch và tạo thuận lợi cho khách hàng trong quá trình tiếp cận nguồn vốn.

Tính đến giữa tháng 4/2025, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay phát sinh mới của các ngân hàng thương mại đạt mức 6,34%/năm, giảm 0,6 điểm phần trăm so với cuối năm 2024. Trước đó, lãi suất cho vay giảm lần lượt 0,59% năm 2024 và 2,5% trong năm 2023.

Song song đó, hệ thống ngân hàng triển khai quyết liệt nhiều chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Một số chương trình phát huy hiệu quả rõ rệt và được mở rộng quy mô nhiều lần, điển hình như: chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản tăng từ 15.000 tỷ đồng lên 30.000 tỷ đồng, sau đó 60.000 tỷ đồng và hiện đạt 100.000 tỷ đồng.

Cùng với đó là triển khai chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long; hay chương trình tín dụng dành cho dự án nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo chung cư cũ theo Nghị quyết 33/NQ-CP, với quy mô hiện đã được nâng lên 145.000 tỷ đồng. Chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp đầu tư vào hạ tầng và công nghệ số có quy mô khoảng 500.000 tỷ đồng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/4: Giá vàng trong nước neo ở ngưỡng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 24/4 ghi nhận diễn biến ổn định tại nhiều doanh nghiệp lớn, mặt bằng giao dịch duy trì quanh vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

Thêm lựa chọn linh hoạt cho kế hoạch tài chính cá nhân với Chubb - Tự Do An Phát

(TBTCO) - Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo vệ và tích lũy tài chính ngày càng đa dạng của người dân Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa ra mắt sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị Chubb - Tự Do An Phát.
Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026: SeABank chốt trả cổ tức 20,5%, tăng vốn lên 34.688 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 22/04/2026, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên năm 2026. Đại hội đã thông qua nhiều nội dung quan trọng liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và kế hoạch kinh doanh năm 2026, với trọng tâm mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 7.068 tỷ đồng, bầu bổ sung thành viên Ban kiểm soát nhiệm kỳ 2023 – 2028, tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

FE CREDIT thăng hạng tín nhiệm lên Ba3 từ Moody’s, triển vọng ổn định

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings (Moody’s) mới đây đã công bố nâng xếp hạng tín nhiệm Ba3, cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC (FE CREDIT).
Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

Lợi nhuận quý I/2026 của OCB đạt 1.224 tỷ đồng, tăng 37% so với cùng kỳ

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phương Đông (mã ck: OCB) vừa công bố báo cáo tài chính hợp nhất quý I/2026 với những chuyển biến tích cực. Không chỉ ghi nhận sự tăng trưởng về quy mô và hiệu quả vận hành, cấu trúc thu nhập cũng cho thấy ngân hàng đang bước vào một chu kỳ phục hồi mang tính nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/4: Trong nước tiếp tục giảm 700.000 đồng - 800.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 23/4 tiếp tục điều chỉnh giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức phổ biến 700.000 - 800.000 đồng/lượng, kéo mặt bằng giao dịch lùi sâu về vùng 166 - 169,2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

Tỷ giá USD hôm nay (23/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, DXY hồi nhẹ khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất tiếp tục lùi xa

(TBTCO) - Sáng ngày 23/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.103 VND/USD, USD tự do ổn định quanh 26.600 - 26.650 đồng, trong khi DXY hiện ở 98,57 điểm, cho thấy tín hiệu phục hồi sau nhịp giảm. Áp lực lạm phát toàn cầu vẫn hiện hữu khi giá năng lượng tăng mạnh tại Mỹ và lan rộng sang các nền kinh tế lớn, khiến kỳ vọng Fed duy trì lãi suất cao lâu hơn tiếp tục được củng cố.
Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

Sớm thành lập sàn vàng quốc gia để minh bạch thị trường

(TBTCO) - TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thị trường tài chính và bất động sản toàn cầu nhấn mạnh, việc sớm thành lập sàn vàng quốc gia giúp minh bạch thị trường, thu hẹp chênh lệch giá vàng về mức hợp lý và khai thông nguồn lực vàng trong dân. Tuy nhiên, lộ trình triển khai vẫn đối mặt nhiều thách thức, trong đó có vấn đề cấp phép nhập khẩu, sản xuất vàng miếng và cân đối nguồn ngoại tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,550 ▼120K 16,800 ▼120K
Kim TT/AVPL 16,550 ▼120K 16,800 ▼120K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,500 ▼120K 16,800 ▼120K
Nguyên Liệu 99.99 15,460 ▼70K 15,660 ▼70K
Nguyên Liệu 99.9 15,410 ▼70K 15,610 ▼70K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,260 ▼10K 16,660 ▼10K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,210 ▼10K 16,610 ▼10K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,140 ▼10K 16,590 ▼10K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 165,000 ▼1000K 168,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 165,000 ▼1000K 168,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 165,000 ▼1000K 168,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 165,000 ▼1000K 168,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 165,000 ▼1000K 168,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 165,000 ▼1000K 168,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 16,620 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,570 ▼50K 16,870 ▼50K
NL 99.90 15,400 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,450 ▼50K
Trang sức 99.9 16,060 ▼50K 16,760 ▼50K
Trang sức 99.99 16,070 ▼50K 16,770 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,655 ▲1655K 16,802 ▲16802K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,655 ▲1655K 16,803 ▲16803K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 165 ▲165K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 165 ▲165K 1,676 ▲1676K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 163 ▲163K 166 ▲166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,856 ▲157856K 164,356 ▲164356K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,762 ▲115762K 124,662 ▲124662K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 104,141 ▲104141K 113,041 ▲113041K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,252 ▲9252K 10,142 ▲10142K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 88,038 ▲88038K 96,938 ▲96938K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 60,479 ▲60479K 69,379 ▲69379K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,655 ▲1655K 168 ▲168K
Cập nhật: 24/04/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18251 18527 19108
CAD 18718 18996 19614
CHF 32852 33237 33891
CNY 0 3815 3907
EUR 30167 30441 31466
GBP 34716 35109 36051
HKD 0 3233 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15124 15712
SGD 20081 20364 20892
THB 728 791 844
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,138 26,138 26,368
USD(1-2-5) 25,093 - -
USD(10-20) 25,093 - -
EUR 30,326 30,350 31,616
JPY 160.92 161.21 169.94
GBP 34,927 35,022 36,021
AUD 18,473 18,540 19,130
CAD 18,909 18,970 19,555
CHF 33,138 33,241 34,016
SGD 20,235 20,298 20,977
CNY - 3,790 3,912
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.39 17.09 18.5
THB 775.36 784.94 836.32
NZD 15,112 15,252 15,610
SEK - 2,804 2,886
DKK - 4,058 4,177
NOK - 2,779 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,222.5 - 6,984.19
TWD 756.54 - 911.21
SAR - 6,923.57 7,250.83
KWD - 83,846 88,696
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,211 30,332 31,512
GBP 34,847 34,987 35,995
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,910 33,042 33,977
JPY 160.98 161.63 168.89
AUD 18,436 18,510 19,104
SGD 20,253 20,334 20,915
THB 791 794 829
CAD 18,877 18,953 19,527
NZD 15,187 15,719
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26368
AUD 18447 18547 19475
CAD 18902 19002 20018
CHF 33119 33149 34728
CNY 3796.5 3821.5 3956.9
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30355 30385 32110
GBP 35017 35067 36825
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15239 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20243 20373 21104
THB 0 757.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16600000 16600000 17200000
SBJ 15000000 15000000 17200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,148 26,138 26,368
USD20 26,148 26,138 26,368
USD1 26,148 26,138 26,368
AUD 18,465 18,565 19,703
EUR 30,463 30,463 31,927
CAD 18,821 18,921 20,264
SGD 20,290 20,440 21,130
JPY 161.74 163.24 168.09
GBP 34,871 35,221 36,141
XAU 16,618,000 0 16,872,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/04/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80