Lãi suất huy động và tỷ giá vẫn còn áp lực tâm lý khá cao

Thái Duy
(TBTCO) - Diễn biến lãi suất huy động ở các ngân hàng thương mại còn phức tạp khi thanh khoản dài hạn hệ thống chưa cải thiện. Nhiều ngân hàng lớn tiếp tục tăng mức lãi suất cho tài khoản không kỳ hạn lên mức trần 1%. Trong khi đó, tỷ giá niêm yết tại các NHTM vẫn duy trì ở mức kịch trần biên độ mới so với tỷ giá trung tâm.
aa

Mặt bằng lãi suất huy động nhiều ngân hàng tăng 300 – 400 điểm cơ bản

Báo cáo thị trường tiền tệ tuần của SSI Research cho biết, trạng thái thanh khoản ngắn hạn của hệ thống ngân hàng tiếp tục được điều tiết linh hoạt thông qua hoạt động thị trường mở trong tuần qua. Nghiệp vụ OMO vẫn được sử dụng xuyên suốt tuần với tổng khối lượng là 23 nghìn tỷ đồng, ở kỳ hạn 14 ngày và lãi suất trúng thầu là 6%.

Cuối tuần qua, khối lượng lưu hành trên kênh cầm cố giảm về 81 nghìn tỷ đồng (từ mức 101 nghìn tỷ đồng của tuần trước đó). Trong khi đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không phát hành thêm tín phiếu và đưa khối lượng lưu hành trên kênh tín phiếu về mức 0. Tổng cộng, NHNN đã hút ròng nhẹ 5,6 nghìn tỷ đồng thông qua hoạt động OMO.

Lãi suất huy động và tỷ giá vẫn còn áp lực tâm lý khá cao
Bên cạnh việc đẩy mạnh chương trình khuyến mại, cộng thêm lãi suất trên 6 tháng để thu hút dòng tiền, nhiều ngân hàng thương mại lớn đã tiếp tục tăng mức lãi suất cho tài khoản không kỳ hạn lên mức trần quy định 1%.

Cũng trong tuần qua, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng đã giảm nhiệt tương đối mạnh, xuống chỉ còn 4,4% ở kỳ hạn qua đêm (giảm 160 điểm so với tuần trước đó) và khiến cho chênh lệch giữa lãi suất VND và USD bị thu hẹp đáng kể. Chuyên gia của SSI Research kỳ vọng, NHNN sẽ tiếp tục hút ròng nhằm đẩy mặt bằng lãi suất VND liên ngân hàng lên mức an toàn hơn so với USD, giảm bớt áp lực lên tỷ giá.

Các chuyên gia của SSI Research cho rằng, diễn biến lãi suất huy động ở các ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần còn phức tạp khi thanh khoản dài hạn trên hệ thống chưa có nhiều sự cải thiện. Bên cạnh việc đẩy mạnh chương trình khuyến mại, cộng thêm lãi suất trên 6 tháng để thu hút dòng tiền, nhiều NHTM lớn đã tiếp tục tăng mức lãi suất cho tài khoản không kỳ hạn lên mức trần quy định 1%. Hiện nay, mặt bằng lãi suất huy động của nhiều ngân hàng đã cao hơn vùng trước Covid, với mức tăng trung bình 300 - 400 điểm cơ bản so với cuối năm 2021.

Áp lực tâm lý lên tỷ giá vẫn còn

Báo cáo của SSI Research cho biết, tâm lý đầu tư trên thị trường tài chính đã có nhiều sự cải thiện trong tuần qua khi số liệu lạm phát của Mỹ hạ nhiệt trong tháng 10. Trong đó, chỉ số CPI tăng 7,7% so với cùng kỳ (giảm mạnh từ mức 8,2% của tháng 9 và thấp hơn dự báo là 7,9%). Đáng chú ý, CPI cơ bản chỉ tăng 6,3%, với đóng góp từ nhóm y tế và phương tiện đã qua sử dụng. Sau khi CPI được công bố, thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ thu hẹp biên độ nâng lãi suất trong cuộc họp vào tháng 12 năm nay, với xác suất 80% khả năng sẽ chỉ tăng 50 điểm cơ bản.

Đồng USD, thông qua chỉ số DXY cũng ghi nhận mức giảm mạnh nhất theo tuần trong vòng 6 tháng qua, khi giảm tới 3,1%, trong khi đó các đồng tiền chủ chốt khác đều tăng giá mạnh như JPY +4,1%, EUR +3,1%, GBP +3,3%. Các đồng tiền trong khu vực cũng tăng mạnh so với USD, như KRW +7,1%, THB 3,8%, và nhờ đó thu hẹp mức mất giá so với cuối năm 2021, chỉ còn khoảng trên dưới 10%.

Lãi suất huy động và tỷ giá vẫn còn áp lực tâm lý khá cao

Trên thị trường ngoại hối trong nước, NHNN đã có bước điều chỉnh hạ tỷ giá bán tại Sở giao dịch NHNN lần đầu tiên kể từ tháng 1 năm nay, mặc dù mức điều chỉnh khá hạn chế (giảm 10 đồng, về 24.860 đồng/USD). Trong khi tỷ giá liên ngân hàng và trên thị trường tự do đều ghi nhận giảm 30 – 100 đồng sau động thái trên. Tỷ giá niêm yết tại các NHTM vẫn duy trì ở mức kịch trần biên độ mới so với tỷ giá trung tâm, quanh mốc 24.880 đồng/USD (tương đương mất giá 8,5% so với cuối năm ngoái).

“Điều này cho thấy áp lực tâm lý vẫn còn khá cao và NHNN cũng thực hiện việc bán USD từ dự trữ ngoại hối khá đều đặn với khối lượng vừa đủ nhằm cấp thanh khoản USD cho hệ thống” – chuyên gia của SSI Research cho hay./.

Vừa qua, Bộ Tài chính Mỹ đã công bố báo cáo định kỳ về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Mỹ”, trong đó Việt Nam đã được ra khỏi danh sách giám sát về thao túng tiền tệ. Cụ thể, với việc Việt Nam chỉ không thỏa mãn 1 tiêu chí (liên quan đến thặng dư thương mại hàng hóa với Mỹ) trong liên tiếp trong 2 kỳ báo cáo, cùng với những bước tiến trong công tác điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của NHNN, Bộ Tài chính Mỹ đã không còn để Việt Nam trong danh sách kể trên. Trong khi đó, các nước trong danh sách giám sát kỳ này bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Singapore, Malaysia và Đài Loan.
Thái Duy

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

(TBTCO) - Trước áp lực tăng lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn và đồng USD mạnh lên, khiến nhiều đồng tiền mất giá 2 - 7%, Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt, kết hợp nhiều công cụ, cân bằng tỷ giá và lãi suất. Lãi suất tiền gửi bình quân của các giao dịch phát sinh mới ở mức 6,38%/năm, tăng 1,15 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,800 142,800
Hà Nội - PNJ 139,800 142,800
Đà Nẵng - PNJ 139,800 142,800
Miền Tây - PNJ 139,800 142,800
Tây Nguyên - PNJ 139,800 142,800
Đông Nam Bộ - PNJ 139,800 142,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 14,330
Miếng SJC Nghệ An 14,030 14,330
Miếng SJC Thái Bình 14,030 14,330
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▼30K 14,300 ▼30K
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,580 ▼30K 14,180 ▼30K
Trang sức 99.99 13,590 ▼30K 14,190 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 14,332
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 14,333
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 1,428
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 1,418
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 140,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 106,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 96,584
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 86,657
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 82,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 59,287
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 1,433
Cập nhật: 15/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17462 17734 18308
CAD 17683 17957 18568
CHF 30536 30912 31551
CNY 0 3824 3920
EUR 28396 28613 29689
GBP 33473 33861 34790
HKD 0 3167 3369
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14227 14813
SGD 19638 19919 20493
THB 687 750 802
USD (1,2) 25617 0 0
USD (5,10,20) 25655 0 0
USD (50,100) 25683 25697 26061
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,700 25,700 26,080
USD(1-2-5) 24,672 - -
USD(10-20) 24,672 - -
EUR 28,495 28,518 29,874
JPY 159.73 160.02 169.7
GBP 33,678 33,769 34,950
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,891 17,948 18,613
CHF 30,862 30,958 31,883
SGD 19,776 19,837 20,616
CNY - 3,794 3,940
HKD 3,232 3,242 3,378
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 735.92 745.01 797.51
NZD 14,245 14,377 14,812
SEK - 2,555 2,647
DKK - 3,822 3,958
NOK - 2,683 2,778
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,928.04 - 6,691.5
TWD 722.85 - 875.81
SAR - 6,775.54 7,141.94
KWD - 81,752 86,997
AED - 6,794 7,321
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 28,452 28,595 29,821
GBP 33,662 33,831 34,862
HKD 3,228 3,247 3,364
CHF 30,687 30,841 31,787
JPY 159.46 161.07 169.05
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,760 19,939 20,532
THB 740 755 793
CAD 17,897 17,987 18,585
NZD 14,293 14,848
KRW 18.53 20.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25710 26080
AUD 17670 17770 18696
CAD 17879 17979 18993
CHF 30769 30799 32380
CNY 3809 3834 3969.2
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28547 28577 30300
GBP 33777 33827 35588
HKD 0 3315 0
JPY 160.59 161.09 171.61
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14317 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19800 19930 20652
THB 0 715.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,594 25,714 26,000
USD20 25,564 25,714 26,000
USD1 24,360 25,714 26,000
AUD 17,702 17,802 18,910
EUR 28,389 28,489 30,153
CAD 17,813 17,913 19,221
SGD 19,890 20,040 20,594
JPY 161.15 162.65 168.17
GBP 33,673 33,823 34,898
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/10/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30