Lợi nhuận ngân hàng có thể sẽ phân hóa mạnh vào cuối năm

Chí Tín
(TBTCO) - Cuối năm, các ngân hàng có thể sẽ có sự phân hóa mạnh về lợi nhuận do sự điều tiết tín dụng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa qua đã có thay đổi theo hướng tháo bỏ hạn mức tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng có khả năng phát triển tốt hoạt động cho vay.
aa
Lợi nhuận ngân hàng có thể sẽ phân hóa mạnh vào cuối năm
Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện các giải pháp cùng hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Ảnh tư liệu

“Mở van” để thúc đẩy tín dụng

Một trong những động thái đáng chú ý có thể tạo ra sự phân hóa mạnh trong các ngân hàng có thể kể đến việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã “mở van” cho các ngân hàng có khả năng cho vay tốt nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng.

Theo NHNN, từ đầu năm 2024, NHNN đã giao toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các tổ chức tín dụng (TCTD) ở mức khoảng 15% đề ra tại Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 15/1/2024.

Tuy nhiên, đến cuối tháng 8/2024, tín dụng toàn hệ thống mới chỉ tăng 6,63% so với cuối năm 2023, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu định hướng đầu năm. Đặc biệt, mức tăng trưởng tín dụng của các TCTD không đồng đều. Có các TCTD tăng trưởng thấp, thậm chí tăng trưởng âm trong khi một số TCTD tăng sát chỉ tiêu NHNN đã thông báo. Do đó, để đáp ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế và kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, NHNN điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD, đồng thời tiếp tục triển khai chủ trương của Quốc hội, Chính phủ về dỡ bỏ dần biện pháp giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng.

Cụ thể, trong nội dung văn bản của NHNN gửi các TCTD, cơ quan này thông báo mức tăng trưởng tín dụng tăng thêm cho các TCTD theo nguyên tắc cụ thể, đảm bảo công khai, minh bạch. Theo đó, các TCTD có tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt từ 80% chỉ tiêu NHNN đã thông báo đầu năm 2024 sẽ được chủ động điều chỉnh tăng thêm dư nợ tín dụng dựa trên cơ sở điểm xếp hạng của TCTD. Việc bổ sung hạn mức này là sự chủ động của NHNN mà các TCTD không cần phải đề nghị.

Đồng thời, NHNN yêu cầu các TCTD thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo về hoạt động tiền tệ, tín dụng và các quy định về cấp tín dụng của NHNN nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định thị trường tiền tệ. NHNN cũng lưu ý các ngân hàng phải hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, lĩnh vực là động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Sẽ phân hóa mạnh về lợi nhuận cuối năm

Tại thời điểm quý III/2024, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, việc điều hành tăng trưởng tín dụng luôn là vấn đề lớn và phụ thuộc nhiều vào nhu cầu nền kinh tế, cũng như khả năng hấp thụ của doanh nghiệp. Về phía NHNN, cơ quan này cũng đã thực hiện các giải pháp cùng hỗ trợ tháo gỡ khó khăn pháp lý cho các doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời thực hiện đồng bộ với các giải pháp khác.

Ngành ngân hàng đã có các gói ưu tiên ưu đãi để tạo cú hích cho vốn, tổ chức các hội nghị kết nối với cộng đồng doanh nghiệp, đó là nơi để chia sẻ, bàn bạc, hiểu nhau hơn thông cảm nhau hơn và mạnh dạn cho vay, tháo gỡ khó khăn từ 2 phía. Theo đó, các ngân hàng cũng đang rà soát tháo gỡ từng ngành nghề, từng lĩnh vực, từng dự án lớn… “Bản thân các ngân hàng cũng nhận thức việc kích được tín dụng mới có tăng trưởng, từ đó mới có lợi nhuận cho ngân hàng” - ông Tú nói.

Về cơ cấu tín dụng thời gian qua, số liệu của NHNN cho thấy tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm 2024 ghi nhận sự bứt phá khá mạnh của lĩnh vực công nghiệp với tốc độ tăng 7,26% so với cuối năm 2023. Ngoài ra, tín dụng cho hoạt động thương mại cũng đạt tốc độ khá tốt với 5,93%. Trong khi đó, một số lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng chậm có thể kể đến như xây dựng chỉ đạt 3,25%; vận tải và viễn thông là 3,59%; nông lâm nghiệp và thủy sản là 3,52%...

Diễn biến này đã có sự thay đổi so với 1 năm trước đó bởi theo số liệu của NHNN thì nửa đầu năm 2023, ngành vận tải và viễn thông mới là lĩnh vực có sức thu hút vốn tín dụng mạnh nhất với tốc độ tăng trưởng lên tới 10,21% so với cuối năm trước. Tại thời điểm đó, lĩnh vực thương mại cũng có sức tăng trưởng khá với 6,72%. Trong khi đó, một số ngành tăng trưởng chậm có thể kể đến như nông lâm thủy sản là 2,49%, xây dựng là 1,67%, công nghiệp là 3,82%...

Ở góc độ các ngân hàng, các diễn biến về tình hình tín dụng riêng của từng ngân hàng cũng luôn là thông tin được nhà đầu tư quan tâm khi đánh giá về triển vọng của ngân hàng đó. Lý do là, trong cơ cấu thu nhập của các ngân hàng hiện nay, thu nhập từ hoạt động huy động vốn và cho vay vẫn là nguồn thu nhập đóng góp tỷ trọng lớn nhất cho lợi nhuận của phần lớn các ngân hàng. Với tính chất này, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp thuộc Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh cho biết, tăng trưởng tín dụng vẫn là yếu tố chính để đánh giá triển vọng lợi nhuận của từng ngân hàng.

Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng của ngân hàng nửa đầu năm đã có sự khác nhau đáng kể và khi các ngân hàng tăng trưởng cao được NHNN “bật đèn xanh” tiếp tục tăng tín dụng thì tiềm năng bứt tốc về cuối năm của những ngân hàng này sẽ vẫn còn rộng mở.

Nhìn lại các con số cụ thể về tăng trưởng của một số ngân hàng thời gian qua từ báo cáo tài chính 6 tháng mà các ngân hàng đã công bố có thể thấy có sự phân hóa khá rõ nét, kể đến một số cái tên như LPBank đạt 15,2%, ACB là 12,8%, HDBank 12,5%, Techcombank đạt 11,6%, MB ở mức 10,3%, VPBank đạt 10,2%... Còn lại, một nhóm các ngân hàng khác lại có tốc độ tăng trưởng thấp hơn mặt bằng chung, thậm chí có trường hợp ABBank còn ghi nhận mức tăng trưởng âm hơn 7% so với cuối năm 2023.

Quan tâm việc duy trì ổn định lãi suất

Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, các ngân hàng phải tiếp tục duy trì ổn định mặt bằng lãi suất tiền gửi và tăng cường triển khai các giải pháp tiết giảm chi phí hoạt động, đơn giản hóa thủ tục cho vay, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số để giảm lãi suất cho vay. Việc cấp tín dụng cho khách hàng phải theo đúng quy định của pháp luật, tăng cường các biện pháp kiểm soát rủi ro tín dụng, đảm bảo chất lượng tín dụng.

Thời gian tới, NHNN tiếp tục bám sát diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản tạo điều kiện cho các TCTD cung ứng tín dụng cho nền kinh tế và kịp thời có giải pháp điều hành chính sách tiền tệ phù hợp.

Chí Tín

Đọc thêm

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Nghệ An 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Thái Bình 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 ▼12K 14,542 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 ▼12K 14,543 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▼12K 1,449 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▼12K 145 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,394 ▼12K 1,439 ▼12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,475 ▼1188K 142,475 ▼1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,286 ▼900K 108,086 ▼900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,212 ▼816K 98,012 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,138 ▲70251K 87,938 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,252 ▼700K 84,052 ▼700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,362 ▼501K 60,162 ▼501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cập nhật: 09/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18216 18491 19067
CAD 18311 18587 19203
CHF 31442 31821 32463
CNY 0 3828 3923
EUR 29560 29781 30856
GBP 34355 34747 35683
HKD 0 3179 3381
JPY 162 166 173
KRW 0 18 20
NZD 0 14885 15470
SGD 19989 20271 20838
THB 705 768 821
USD (1,2) 25697 0 0
USD (5,10,20) 25736 0 0
USD (50,100) 25764 25778 26143
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,602 29,626 31,033
JPY 164.36 164.66 174.63
GBP 34,530 34,623 35,832
AUD 18,404 18,470 19,181
CAD 18,492 18,551 19,237
CHF 31,688 31,787 32,728
SGD 20,109 20,172 20,963
CNY - 3,795 3,941
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.85 18.62 20.27
THB 752.57 761.86 815.77
NZD 14,881 15,019 15,465
SEK - 2,662 2,757
DKK - 3,971 4,111
NOK - 2,769 2,868
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,962.56 - 6,746.76
TWD 744.29 - 901.77
SAR - 6,795.37 7,162.51
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,641 29,760 30,953
GBP 34,549 34,688 35,720
HKD 3,244 3,257 3,373
CHF 31,546 31,673 32,605
JPY 164.90 165.56 173.54
AUD 18,410 18,484 19,081
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 769 772 809
CAD 18,505 18,579 19,175
NZD 14,970 15,513
KRW 18.52 20.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18399 18499 19421
CAD 18489 18589 19605
CHF 31682 31712 33294
CNY 3810.1 3835.1 3970.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29746 29776 31501
GBP 34658 34708 36476
HKD 0 3330 0
JPY 165.55 166.05 176.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15012 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20153 20283 21005
THB 0 734.4 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,765 25,795 26,180
USD20 25,745 25,795 26,180
USD1 25,695 25,795 26,180
AUD 18,449 18,549 19,671
EUR 29,540 29,640 31,312
CAD 18,438 18,538 19,852
SGD 20,234 20,384 20,947
JPY 165.81 167.31 172.93
GBP 34,557 34,707 35,795
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/09/2026 12:30
Ngân hàng