Thị trường tiền tệ tuần từ 25-29/3:

Lượng tín phiếu phát hành giảm, tín dụng nhích tăng

Chí Tín
(TBTCO) - Thông tin tuần qua cho thấy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tiếp tục tuần thứ ba hút tiền qua thị trường mở, nhưng khối lượng tín phiếu bán ra đã giảm mạnh. Trong khi đó, tín dụng nền kinh tế tháng 3 đã tăng trưởng dương sau 2 tháng đầu năm tăng trưởng âm.
aa

Tín phiếu phát hành giảm mạnh

NHNN đã thực hiện tuần thứ ba liên tiếp hút tiền qua thị trường mở bằng hình thức phát hành tín phiếu kỳ hạn 28 ngày. Diễn biến gần đây cho thấy, các đợt phát hành tín phiếu tuy vẫn diễn ra hàng ngày, nhưng lượng tín phiếu đã giảm từ mức khoảng 15 nghìn tỷ đồng mỗi phiên trong 2 tuần đầu, xuống chỉ còn vài nghìn tỷ đồng mỗi phiên trong tuần này. Riêng trong phiên ngày 29/3, lượng tín phiếu bán ra có thể nói ở chỉ ở mức “nhỏ giọt”, với giá trị chỉ 2,3 nghìn tỷ đồng.

Lãi suất tín phiếu đã có thay đổi theo chiều hướng tăng dần. Trong thời gian đầu, lãi suất trúng thấu tín phiếu chỉ khoảng 1,4%/năm, nhưng sau đó nhích dần lên, đến phiên 26/3 đã tăng lên 1,9%/năm và đến các phiên 28/3 - 29/3 tăng mạnh lên mức khoảng 2,5 - 2,8%/năm.

Tại thị trường liên ngân hàng, lãi suất cho vay qua đêm sau khi giảm về mức rất thấp chỉ còn 0,13%/năm đã bật tăng trở lại lên mức 0,28%/năm, nhưng vẫn ở mức thấp hơn khá nhiều so với trần lãi suất 5% theo quy định của NHNN. Lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn khác ghi nhận mức 1,56% với kỳ hạn 1 tuần, 2,04% với kỳ hạn 2 tuần, 2,36% với kỳ hạn 1 tháng.

Với lãi suất ngoài thị trường huy động và cho vay, NHNN cho biết tính đến cuối tháng 3/2024, lãi suất bình quân huy động và cho vay đối với các giao dịch phát sinh mới thời điểm hiện tại lần lượt ở mức 3,1%/năm và 6,5%/năm; giảm tương ứng khoảng 0,4%/năm và 0,6%/năm so với cuối năm 2023.

Lượng tín phiếu phát hành giảm, tín dụng nhích tăng
Thị trưởng mở đã hoạt động tuần thứ 3 liên tiếp. Ảnh: T.L
Xây dựng thông tư về giấy phép cho các ngân hàng có yếu tố nước ngoài Lãi suất cho vay đã giảm khoảng 0,6% so với cuối năm 2023

Họp Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ

Trong tuần qua, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái - Chủ tịch Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, đã chủ trì cuộc họp toàn thể của hội đồng.

Tại cuộc họp này, NHNN đã có báo cáo cho thấy, kinh tế có tín hiệu phục hồi khá tích cực, thể hiện ở xu hướng tăng mạnh về xuất khẩu, vốn FDI, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, du lịch, dịch vụ. Các cân đối vĩ mô được đảm bảo: lạm phát trong tầm kiểm soát, phù hợp với mục tiêu đặt ra; tiến độ thu, chi ngân sách nhà nước cao hơn cùng kỳ 2023, thu lớn hơn chi; cán cân thanh toán thặng dư năm 2023 và dự kiến cân bằng trong quý I/2024.

Chỉ số giá vàng tháng 3/2024 tăng 4,59% so với tháng trước.

Theo Tổng cục Thống kê, chỉ số giá vàng đã tăng 9,41% so với tháng 12/2023; tăng 22,71% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I/2024, chỉ số giá vàng tăng 18,23%.

NHNN cho biết tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 02 và đang rà soát để sửa đổi, bổ sung, gia hạn thông tư; tiếp tục triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng như chương trình tín dụng 120.000 tỷ đồng, chương trình cho vay lâm sản, thủy sản...

Đối với công tác quản lý thị trường vàng, một số chuyên gia cho rằng cần nghiên cứu và đánh giá kỹ lưỡng việc bỏ cơ chế nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, thực hiện cấp phép sản xuất vàng miếng cho một số doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện; xem xét, điều chỉnh hoạt động sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng trang sức mỹ nghệ thành hoạt động kinh doanh thông thường.

Tín dụng tăng trưởng dương

Tuần qua NHNN và Tổng cục Thống kê đều đã công bố số liệu về tăng trưởng tín dụng tháng 3/2024. Theo NHNN, tính đến ngày 25/3/2024, tín dụng nền kinh tế đạt khoảng 13,6 triệu tỷ đồng, tăng 0,26% so với cuối năm 2023 (riêng tháng 3 tăng 0,98%).

Trong khi đó theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 25/3/2024, huy động vốn của các tổ chức tín dụng giảm 0,76% so với cuối năm 2023; tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 0,26%.

Trước đó, tăng trưởng tín dụng âm trong 2 tháng đầu năm 2024 và theo đó, NHNN đã có một số cuộc họp để phân tích, đánh giá nguyên nhân và đưa ra các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng.

NHNN cho biết, mức giảm thời gian qua ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế. Trong đó NHNN cho rằng, khó khăn một phần do kinh tế thế giới diễn biến khó lường, áp lực lạm phát và mặt bằng lãi suất thế giới ở mức cao, đồng USD, giá vàng thế giới diễn biến phức tạp; chênh lệch lãi suất USD-VND...

Về yếu tố trong nước, nhu cầu vốn tín dụng thường tăng cao vào dịp cuối năm và thời điểm trước Tết Nguyên đán. Trong khi đó, cầu và sức hấp thụ vốn của nền kinh tế ở mức thấp, nhiều doanh nghiệp thu hẹp hoặc ngừng hoạt động do sức ép lạm phát, giá cả vật liệu tăng; người dân tăng dự phòng và giảm vay chi tiêu…

Lượng tín phiếu phát hành giảm, tín dụng nhích tăng
Giá vàng thế giới liên tục thiết lập các kỷ lục mới. Ảnh: T.L

Giá vàng vẫn nhích tăng

Tuần qua giá vàng không có những diễn biến bùng nổ quá mạnh, nhưng vẫn nhích tăng và neo ở mặt bằng cao. Cuối tuần, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận ở mức mua vào là 79.000 đồng/lượng và bán ra ở mức 81.000 đồng/lượng; giá vàng nhẫn SJC 9999 mua vào ở mức 69,2 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 70,45 triệu đồng/lượng.

Trong khi đó, giá vàng ở thị trường quốc tế vẫn tiếp tục là điểm nóng và ghi nhận nhịp sóng bùng nổ mới trong những ngày cuối tuần, tiếp tục thiết lập các mốc kỷ lục mới mọi thời đại. Đến chiều ngày 29/3 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới đã đạt mức giao dịch lên tới 2.233 USD/ounce.

Chỉ số giá Đô la Mỹ

Giá Đô la Mỹ tháng 3/2024 tăng 0,88% so với tháng trước; tăng 1,81% so với tháng 12/2023; tăng 4,32% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I/2024 tăng 3,97%.

Với diễn biến tỷ giá, sau một thời gian NHNN thực hiện các động thái hút tiền qua thị trường mở, tỷ giá tại thị trường tự do đã hạ nhiệt đáng kể, đến nay sức ép tại thị trường này đã giải tỏa với giá mua vào/bán ra đều ở mức dưới 25.500 đồng/USD. Tuy nhiên, tỷ giá chính thức tại các ngân hàng thương mại vẫn còn neo ở mức cao khi tỷ giá bán tại Vietcombank tại buổi chiều ngày ngày 29/3 là 24.980 đồng/USD.

Tuần qua, Tổng cục Thống kê đã công bố các số liệu xuất nhập khẩu với diễn biến xuất siêu vẫn tiếp tục duy trì qua đó cho thấy sức ép tỷ giá về mặt trung và dài hạn. Cụ thể, cán cân thương mại hàng hóa tháng 3 ước tính xuất siêu 2,93 tỷ USD. Tính chung quý I/2024, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 8,08 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 4,93 tỷ USD)..

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 8/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm hơn 10 USD/ounce, xuống còn 4.414 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng giảm 1,1 triệu đồng, còn vàng nhẫn giảm tới 1,2 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/9: Vàng nhẫn cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đi ngang, trong đó vàng nhẫn được niêm yết cao nhất ở mức 150 triệu đồng/lượng, cao hơn vàng miếng 2,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 5/9: Vàng thế giới giảm hơn 60 USD, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 60 USD, xuống mức 4.430 USD/ounce. Trong khi đó, vàng trong nước đồng loạt tăng, có thương hiệu điều chỉnh vàng nhẫn thêm 1 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/9: Vàng thế giới tăng hơn 100 USD, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 103 USD/ounce trong vòng 24 giờ, lên 4.472,2 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn tăng giảm trái chiều, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 07:00
Ngân hàng