"Nắn" dòng vốn đúng đích trong chặng nước rút

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng còn 3,41 điểm phần trăm trong quý cuối năm để hoàn thành mục tiêu, quy mô tín dụng toàn hệ thống có thể đạt 21,4 triệu tỷ đồng. Cùng với mục tiêu tăng trưởng, nhiều ngân hàng ưu tiên vốn cho sản xuất, kinh doanh, với nhiều gói tín dụng thiết kế riêng, bảo đảm dòng vốn chảy đúng đích.
aa

Tạo thêm dư địa cấp vốn phục vụ tăng trưởng kinh tế

Bước vào chặng nước rút cuối năm, tăng trưởng tín dụng đang tiến gần mục tiêu 15% được Ngân hàng Nhà nước giao từ đầu năm. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 30/9/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và tăng 16,69% so với cùng kỳ.

Như vậy, khoảng 2,2 triệu tỷ đồng đã được “bơm” cho nền kinh tế từ đầu năm đến cuối tháng 9. Với kết quả này, dư địa tăng trưởng tín dụng trong quý IV còn khoảng 3,41 điểm phần trăm để hoàn thành mục tiêu 15% cả năm, qua đó, có thể đưa quy mô dư nợ toàn hệ thống lên khoảng 21,4 triệu tỷ đồng.


Khoảng 77,4% tổng dư nợ tín dụng trong 9 tháng năm 2026 phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Ảnh: Đức Thanh

Đáng chú ý, khác với các năm trước, tăng trưởng tín dụng năm nay diễn ra tương đối đồng đều qua các quý, đạt 3,18% trong quý I; 7,73% sau 6 tháng và 11,59% sau 9 tháng. Diễn biến này gắn với cách thức điều hành có sự khác biệt của Ngân hàng Nhà nước khi chủ động giới hạn tốc độ tăng trưởng tín dụng ngay quý đầu năm.

Không chỉ tốc độ tăng trưởng tín dụng, dòng vốn đang chảy vào những lĩnh vực nào và đóng góp ra sao cho nền kinh tế cũng là vấn đề đáng quan tâm.

Dù Ngân hàng Nhà nước không nới hạn mức giai đoạn cuối năm như nhiều năm trước, nhưng nhà điều hành linh hoạt điều chỉnh cách tính chỉ tiêu, loại trừ dư nợ của một số loại hình bất động sản, dự án đáp ứng điều kiện, qua đó tạo thêm dư địa cho các tổ chức tín dụng cấp vốn phục vụ tăng trưởng kinh tế.

Kiểm soát tín dụng rủi ro, thúc đẩy các gói vay ưu tiên

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, lành mạnh và hiệu quả, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, tiếp tục đẩy mạnh triển khai các gói tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đảm bảo hiệu quả tốt nhất như mục tiêu đề ra.

Ngân hàng Nhà nước cũng tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng.

Đặc biệt, các ngân hàng thương mại được chỉ đạo triển khai chương trình tín dụng dành cho các động lực tăng trưởng, doanh nghiệp nhỏ và vừa, với lãi suất ưu đãi thấp hơn tối thiểu 1%/năm, góp phần thúc đẩy dòng vốn vào những lĩnh vực trọng tâm trong chặng nước rút cuối năm.

Về kết quả phân bổ dòng vốn trên thực tế, ông Nguyễn Xuân Bắc - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, khoảng 77,4% tổng dư nợ phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong các lĩnh vực ưu tiên, tín dụng nông nghiệp, nông thôn chiếm khoảng 22% tổng dư nợ, tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 20%.

“Về tốc độ tăng trưởng, một số lĩnh vực có mức tăng khá cao, trong đó, tín dụng xuất khẩu tăng 33,32% và tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 39,62% so với cuối năm 2025” - ông Bắc thông tin.

Đẩy vốn vào sản xuất, các lĩnh vực ưu tiên

Cập nhật về tình hình tăng trưởng tín dụng tại ngân hàng thương mại, ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết, dư nợ tín dụng của ngân hàng đạt hơn 2,1 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 7,5% so với cuối năm 2025, góp phần cung ứng vốn cho nền kinh tế và tuân thủ hạn mức tăng trưởng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước.

Bên cạnh đó, VietinBank luôn quan tâm dành nguồn lực cho các lĩnh vực ưu tiên. Đến nay, dư nợ tín dụng cho lĩnh vực ưu tiên của VietinBank đạt hơn 141 nghìn tỷ đồng. Trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 57% tổng dư nợ của nhóm này; tiếp đến là nông nghiệp, nông thôn và xuất khẩu.

“Với gói tín dụng 50 nghìn tỷ đồng hướng tới các động lực kinh tế và doanh nghiệp vừa và nhỏ, ngay trong tháng đầu tiên triển khai đã đạt 5,9 nghìn lượt khách hàng giải ngân” - ông Tùng chia sẻ.

Với Nam A Bank, theo số liệu sơ bộ trước thời điểm công bố báo cáo tài chính quý III/2026, tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng tăng 10,8% so với đầu năm. Hoạt động cấp tín dụng tiếp tục được định hướng gắn với nhu cầu vốn của nền kinh tế, đồng thời cân đối giữa mở rộng quy mô, chất lượng tài sản và các chỉ tiêu an toàn.

Đại diện Nam A Bank cho biết, ngân hàng ưu tiên dòng vốn vào các lĩnh vực có chuỗi giá trị khép kín, giá trị xuất khẩu cao như trà, thủy sản, cà phê, cao su... và những ngành tạo dòng tiền ổn định như giáo dục, y tế...; đồng thời giảm mạnh tỷ trọng cho vay bất động sản.

Về chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ nhóm 2 được Nam A Bank kiểm soát ở mức 0,6%, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu tăng 12,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, cho thấy ngân hàng đang chú trọng kiểm soát rủi ro tín dụng song song với mở rộng dư nợ.

Dòng vốn tín dụng chính sách cũng tiếp tục được mở rộng, hướng đến các nhóm đối tượng đặc thù và mục tiêu an sinh xã hội.

Về kết quả triển khai các chương trình tín dụng chính sách, ông Vương Văn Minh - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội cho biết, đến nay, tổng dư nợ của ngân hàng đạt khoảng 457.961 tỷ đồng, tăng 10,7% so với cuối năm 2025 và hoàn thành 96% chỉ tiêu được giao.

Bên cạnh mở rộng quy mô tín dụng, Ngân hàng Chính sách xã hội đã phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Chính phủ ban hành nhiều chính sách mới mang tính nhân văn sâu sắc.

Trong đó, chương trình cho vay học sinh, sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh theo học các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) đã hỗ trợ hơn 6.900 người vay vốn, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ và kinh tế số.

Đối với chương trình cho vay người chấp hành xong án phạt tù, đến nay đã có trên 18.000 người được tiếp cận nguồn vốn. Bên cạnh đó, chương trình cho vay hỗ trợ tạo việc làm cũng được mở rộng, với dư nợ lớn trên 110.000 tỷ đồng; đồng thời, hạn mức cho vay tăng từ 50 triệu đồng lên 200 triệu đồng đối với mỗi người lao động và tối đa 10 tỷ đồng đối với cơ sở sản xuất kinh doanh. Đến nay, khoảng 2 triệu người lao động đã được vay vốn từ chương trình này.

Gói tín dụng nông, lâm, thủy sản vượt đích

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng Nguyễn Xuân Bắc, doanh số giải ngân chương trình tín dụng nông, lâm, thủy sản đến cuối tháng 8/2026 đạt gần 238.120 tỷ đồng, tương đương 128,7% quy mô chương trình, vượt mục tiêu đề ra, với 88.434 lượt khách hàng được giải ngân.

Trước đó, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các ngân hàng thương mại triển khai chương trình cho vay đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản với quy mô ban đầu 15.000 tỷ đồng từ năm 2023. Sau 4 lần nâng quy mô, đồng thời mở rộng phạm vi và đối tượng tham gia, quy mô chương trình lên tới 185.000 tỷ đồng.

Đáng chú ý, đến cuối tháng 8/2026, doanh số giải ngân lũy kế đạt gần 238.120 tỷ đồng, tương đương 128,7% quy mô chương trình, với 88.434 lượt khách hàng được giải ngân.

Về định hướng triển khai trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Công văn số 8839/NHNN-TD, yêu cầu 18 ngân hàng thương mại tham gia đánh giá kết quả thực hiện và đề xuất phương hướng triển khai tiếp theo, làm cơ sở tham mưu cấp có thẩm quyền xem xét việc tiếp tục thực hiện chương trình.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đề xuất hoàn thiện quy định xử phạt trong lĩnh vực đặt cược và trò chơi có thưởng

Đề xuất hoàn thiện quy định xử phạt trong lĩnh vực đặt cược và trò chơi có thưởng

(TBTCO) - Bộ Tài chính xây dựng dự thảo Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đặt cược và trò chơi có thưởng, thay thế Nghị định số 137/2021/NĐ-CP. Dự thảo nhằm đồng bộ với pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm.
Tiền nhàn rỗi: Tích lũy và đầu tư ra sao?

Tiền nhàn rỗi: Tích lũy và đầu tư ra sao?

(TBTCO) - Tiền nhàn rỗi nên làm gì để vừa chủ động trước những khoản chi bất ngờ, vừa từng bước xây dựng tài sản cho tương lai? Trong bối cảnh người Việt ngày càng chú trọng quản lý dòng tiền, tích lũy hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào thu nhập mà còn nằm ở cách phân bổ và sử dụng tiền hợp lý.
Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 14/10, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng lên 25.646 đồng, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng giảm. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 102,18 điểm. Thị trường chờ dữ liệu lạm phát Mỹ, khi một số nhà phân tích nhận định CPI lõi tăng 0,4% trong tháng 9 có thể khiến Fed đẩy sớm quyết định tăng lãi suất lên tháng 10.
Giá vàng hôm nay ngày 14/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước giảm tại một số “nhà vàng”

Giá vàng hôm nay ngày 14/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước giảm tại một số “nhà vàng”

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm tại một số thương hiệu, với mức điều chỉnh phổ biến từ 100.000 đến 300.000 đồng/lượng.
Thương vụ bán vốn nghìn tỷ khuấy động ngành ngân hàng, được giá chưa đủ mà cần "mối duyên” chiến lược

Thương vụ bán vốn nghìn tỷ khuấy động ngành ngân hàng, được giá chưa đủ mà cần "mối duyên” chiến lược

(TBTCO) - "Làn sóng" phát hành cổ phiếu riêng lẻ, bán vốn ngân hàng sôi động, hứa hẹn mang về nguồn lực nghìn tỷ giúp củng cố bộ đệm vốn, mở rộng tín dụng. Kỳ vọng nâng hạng thị trường chứng khoán mở ra nhiều cơ hội hút dòng vốn ngoại, nhưng thành bại các thương vụ không chỉ nằm ở bài toán định giá, mà là “kết duyên” đúng đối tác chiến lược.
Quy định mới về quản lý tài chính với chương trình, dự án tài chính vi mô

Quy định mới về quản lý tài chính với chương trình, dự án tài chính vi mô

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 153/2026/TT-BTC, có hiệu lực từ ngày 1/12/2026, quy định chế độ tài chính đối với chương trình, dự án tài chính vi mô của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ, nhằm tăng tính minh bạch trong quản lý vốn, tài sản, doanh thu và chi phí.
Lãnh đạo Bảo hiểm VietinBank đón nhận vinh danh "Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu - Cúp Thánh Gióng" năm 2026

Lãnh đạo Bảo hiểm VietinBank đón nhận vinh danh "Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu - Cúp Thánh Gióng" năm 2026

(TBTCO) - Tối ngày 11/10, ông Nguyễn Huy Quang – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Bảo hiểm VietinBank - VBI nhận vinh danh “Doanh nhân Việt Nam tiêu biểu – Cúp Thánh Gióng” năm 2026. Chương trình do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc Gia, Hà Nội, nhằm tôn vinh những thành tích và đóng góp của đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân trong công cuộc phát triển đất nước.
Giá vàng hôm nay ngày 13/10:  Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/10: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Sau nhịp tăng lên mức cao nhất một tuần, giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce. Trong nước, các thương hiệu cũng điều chỉnh giảm giá vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,800 ▼1000K 142,800 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,030 ▼100K 14,330 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,930 ▼20K 14,330 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,930 ▼20K 14,330 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,930 ▼20K 14,330 ▼20K
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,610 ▼20K 14,210 ▼20K
Trang sức 99.99 13,620 ▼20K 14,220 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,403 ▼10K 14,332 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,403 ▼10K 14,333 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,398 ▼10K 1,428 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,398 ▼10K 1,429 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,373 ▼10K 1,418 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,396 ▼990K 140,396 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,711 ▼750K 106,511 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,784 ▼680K 96,584 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,857 ▼610K 86,657 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,028 ▼583K 82,828 ▼583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,487 ▼417K 59,287 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,403 ▼10K 1,433 ▼10K
Cập nhật: 14/10/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17587 17860 18440
CAD 17690 17964 18579
CHF 30456 30831 31470
CNY 0 3826 3921
EUR 28379 28596 29670
GBP 33533 33920 34862
HKD 0 3168 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14243 14827
SGD 19667 19948 20518
THB 686 749 803
USD (1,2) 25627 0 0
USD (5,10,20) 25665 0 0
USD (50,100) 25693 25707 26072
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,700 25,700 26,080
USD(1-2-5) 24,672 - -
USD(10-20) 24,672 - -
EUR 28,445 28,468 29,820
JPY 159.06 159.35 169.01
GBP 33,734 33,825 34,992
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 17,882 17,939 18,600
CHF 30,707 30,802 31,722
SGD 19,788 19,850 20,631
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,232 3,242 3,378
KRW 17.85 18.61 20.25
THB 735.27 744.35 797.03
NZD 14,229 14,361 14,794
SEK - 2,557 2,648
DKK - 3,815 3,950
NOK - 2,679 2,774
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,928.04 - 6,691.5
TWD 726.69 - 880.47
SAR - 6,775.72 7,138.14
KWD - 81,752 86,997
AED - 6,794 7,321
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,695 25,725 26,105
EUR 28,434 28,577 29,801
GBP 33,720 33,889 34,921
HKD 3,228 3,247 3,364
CHF 30,575 30,729 31,674
JPY 158.69 160.29 168.27
AUD 17,735 17,860 18,457
SGD 19,794 19,974 20,568
THB 741 756 793
CAD 17,895 17,985 18,583
NZD 14,320 14,875
KRW 18.67 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25710 26080
AUD 17748 17848 18773
CAD 17881 17981 18995
CHF 30709 30739 32320
CNY 3809 3834 3969.4
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28563 28593 30318
GBP 33847 33897 35657
HKD 0 3315 0
JPY 159.97 160.47 171
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14356 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19847 19977 20699
THB 0 716.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,597 25,717 26,010
USD20 25,567 25,717 26,010
USD1 25,547 25,717 26,010
AUD 17,818 17,918 19,023
EUR 28,367 28,467 30,130
CAD 17,828 17,928 19,236
SGD 19,923 20,073 20,628
JPY 160.59 162.09 167.62
GBP 33,755 33,905 34,977
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 752 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/10/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30