Thị trường tiền tệ tuần 19-23/2:

Ngân hàng tìm giải pháp thúc đẩy tín dụng, lãi suất liên ngân hàng vọt tăng mạnh

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận động thái “tăng ga” của ngành Ngân hàng trong mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Trong khi đó, lãi suất thị trường liên ngân hàng vọt tăng mạnh, đồng thời Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng có một vài động thái bơm tiền trên thị trường mở.
aa

Tín dụng tăng trưởng âm

Tuần qua, NHNN cho biết tốc độ tăng trưởng trong tháng 1/2024 ghi nhận âm 0,6%. Đây là diễn biến khá trái ngược so với bức tranh tín dụng đã bùng nổ mạnh mẽ trong tháng cuối của năm 2023.

Trước đó, tăng trưởng tín dụng từ đầu năm 2023 đến 22/11/2023 chỉ đạt 8,21%, thấp hơn so với chỉ tiêu định hướng đầu năm. Tuy nhiên, đến 31/12/2023, tốc độ tăng trưởng tín dụng chung cả năm 2023 vẫn đạt 13,71%. Như vậy, tăng trưởng tín dụng chỉ trong khoảng 5 tuần từ 23/11 đến 31/12/2023 đã đạt tới 5,5%. Theo đó, sự sụt giảm tín dụng trong tháng 1/2024 đã đảo chiều hoàn toàn so với giai đoạn tháng 12/2023.

Đại diện NHNN và một số ngân hàng thương mại cho rằng, việc sụt giảm tốc độ tăng trưởng tín dụng đầu năm cũng là thông lệ thường thấy trong các năm trước. Ông Phạm Toàn Vượng - Tổng giám đốc Agribank cho biết, Agribank có đặc thù là dư nợ cho vay cá nhân chiếm 70% và thông lệ là cuối năm tăng trưởng rất nhanh và đầu năm giảm.

Tuy nhiên, Agribank cũng đã thực hiện một số giải pháp sớm, chẳng hạn đầu năm 2024 đã triển khai gói tín dụng 60 nghìn tỷ đồng với nhóm đối tượng là cho vay cá nhân. Đồng thời, ngân hàng này cũng tập trung vào cải tiến quy trình thủ tục, áp dụng cơ sở dữ liệu về dân cư và đang triển khai.

Ngân hàng tìm giải pháp thúc đẩy tín dụng, lãi suất liên ngân hàng vọt tăng mạnh
Ngành Ngân hàng đang triển khai các giải pháp thúc đẩy tín dụng. Ảnh: T.L

Lãi suất huy động và cho vay giảm

Một trong những thông điệp quan trọng trên thị trường tiền tệ là việc lãi suất cả đầu vào và đầu ra vẫn đang tiếp tục giảm. NHNN cho biết, đến 31/1/2024, lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân các giao dịch phát sinh mới của các ngân hàng thương mại giảm lần lượt khoảng 0,15%/năm và 0,25%/năm so với cuối năm 2023.

Tháng 2/2024, NHNN cũng đã có công văn yêu cầu tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, của NHNN về vấn đề lãi suất và báo cáo tình hình công bố lãi suất cho vay bình quân, chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay bình quân.

Rục rịch động thái trên thị trường mở

Tuần qua ghi nhận một số động thái của NHNN trên thị trường mở khi cơ quan này đã có những phiên mua vào tín phiếu. Chẳng hạn, phiên ngày 20/2, NHNN đã mua hơn 5 nghìn tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 7 ngày; phiên ngày 21/2 tiếp tục mua thêm một khối lượng nhỏ khoảng hơn 946 tỷ đồng tín phiếu kỳ hạn 7 ngày.

Để đạt mục tiêu đề ra, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thuộc NHNN cho biết, NHNN sẽ tập trung một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm điều hành tín dụng năm 2024.

Theo đó, NHNN tiếp tục điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến thị trường, kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; khuyến khích các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục cấp tín dụng, tăng cường ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số vào quy trình cấp tín dụng, phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ nền kinh tế.

Tỷ giá nhích tăng nhẹ

Tỷ giá trung tâm trong tuần qua được NHNN điều chỉnh dần theo từng phiên theo xu hướng nhích tăng nhẹ. Mở đầu tuần, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 23.979 đồng/USD, tăng 8 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước.

Sau đó NHNN tiếp tục điều chỉnh tăng tỷ giá trung tâm trong phần lớn các ngày trong tuần, nhưng mức điều chỉnh không lớn, chốt hôm thứ sáu ngày 23/2 ở mức 23.996 đồng/USD. Theo đó, tỷ giá trung tâm đã tăng khoảng 17 đồng mỗi Đô la so với 1 tuần trước.

Tại Vietcombank, tỷ giá bán ra hôm thứ hai đầu tuần là 24.700 đồng/USD, tăng 20 đồng mỗi Đô la, sau đó tỷ giá được ngân hàng thương mại này điều chỉnh tăng giảm đan xen trong các ngày trong tuần, cuối tuần bán ra ở mức 24.760 đồng/USD, tăng khoảng 80 đồng mỗi Đô la so với 1 tuần trước.

Ngân hàng tìm giải pháp thúc đẩy tín dụng, lãi suất liên ngân hàng vọt tăng mạnh
Khá đông khách hàng đến giao dịch mua bán vàng trong ngày Vía Thần Tài. Ảnh: C.T

Tuần vừa qua, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ đã có phần hạ nhiệt sau giai đoạn tăng kéo dài từ cuối tháng 12/2023. Tại thời điểm chiều ngày 23/2, chỉ số DXY ghi nhận 103,92 điểm. Chỉ số DXY giảm phần nào giảm bớt áp lực về tỷ giá do ảnh hưởng từ thị trường tài chính quốc tế, tuy nhiên, lãi suất tại thị trường Mỹ vẫn neo ở mức cao trong khi lãi suất đồng VND vẫn trong xu hướng giảm và là một trong những lý do được các chuyên gia đưa ra cảnh báo về tỷ giá do áp lực rút ròng của dòng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Nghịch lý giá vàng ngày Thần tài

Khác với thông lệ hàng năm khi giá vàng thường tăng mạnh trong ngày Vía Thần Tài (10 tháng Giêng âm lịch), giá vàng miếng và vàng nhẫn SJC 9999 đều giảm trong ngày Vía Thần Tài năm nay và chỉ có vàng trang sức tăng giá.

Tuy nhiên, giá vàng tăng trở lại vào cuối ngày Vía Thần Tài và có được một số ngày tăng giá tiếp theo sau đó. Đến chiều ngày 23/2, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận mức mua vào là 76,2 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 78,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng nhẫn SJC 9999 là 63,45 triệu đồng/lượng mua vào và 64,65 triệu đồng/lượng bán ra; vàng nữ trang 9999 là 63,2 triệu đồng/lượng mua vào và 64,25 triệu đồng/lượng bán ra.

Trên thế giới, giá vàng lấy lại đà phục hồi trong bối cảnh giá đồng USD giảm trong tuần qua, giá tại thời điểm chiều ngày 23/2 theo giờ Việt Nam ở mức 2.020 đồng/ounce, tăng khoảng 17 đồng mỗi ounce so với 1 tuần trước đó.

Lãi suất liên ngân hàng cho vay qua đêm đã tăng ở mức trên 4%

Trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận đà tăng mạnh và kỳ hạn cho vay qua đêm đã đạt mức 4,14%. Với các kỳ hạn khác, lãi suất 1 tuần là 3,81%; kỳ hạn 2 tuần là 3,02%; kỳ hạn 1 tháng là 2,55%; kỳ hạn 3 tháng là 3,14%...

Trước đó, lãi suất liên ngân hàng đã tăng cao giai đoạn trước nghỉ Tết, nhưng lại quay đầu hạ nhiệt mạnh trong những ngày đầu sau nghỉ Tết.

Hiện nay, trần lãi suất cho vay qua đêm được quy định là 5%, theo Quyết định số 1123/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 28/6: Giá vàng trong nước tăng tới 1,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với mức điều chỉnh phổ biến 1,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 26/6: Giá vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 26/6: Giá vàng thế giới lấy lại mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên trên mốc 4.000 USD/ounce,trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18460
CAD 17984 18259 18875
CHF 31874 32255 32906
CNY 0 3832 3925
EUR 29391 29612 30690
GBP 34048 34438 35369
HKD 0 3224 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14622 15212
SGD 19765 20046 20619
THB 704 767 821
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,495 29,519 30,903
JPY 157.28 157.56 166.96
GBP 34,202 34,295 35,459
AUD 17,810 17,874 18,532
CAD 18,155 18,213 18,870
CHF 32,110 32,210 33,124
SGD 19,890 19,952 20,716
CNY - 3,803 3,945
HKD 3,287 3,297 3,432
KRW 15.56 16.23 17.64
THB 752.88 762.18 814.84
NZD 14,583 14,718 15,141
SEK - 2,660 2,752
DKK - 3,946 4,082
NOK - 2,604 2,695
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,021.97 - 6,792.46
TWD 745.87 - 902.82
SAR - 6,882.79 7,243.76
KWD - 83,142 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26466
AUD 17776 17876 18801
CAD 18156 18256 19270
CHF 32096 32126 33716
CNY 3813.3 3838.3 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31310
GBP 34315 34365 36133
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14713 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19919 20049 20770
THB 0 735 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,136 26,186 26,466
USD20 26,136 26,186 26,466
USD1 23,946 26,186 26,466
AUD 17,841 17,941 19,045
EUR 29,699 29,699 31,108
CAD 18,095 18,195 19,503
SGD 20,004 20,154 20,717
JPY 158.63 160.13 164.69
GBP 34,219 34,569 35,441
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80