Những tác động tới thị trường tài chính trong nước sau cuộc họp của FED

Chí Tín
(TBTCO) - Sau khi FED kết thúc cuộc họp tháng 3, nhiều diễn biến kinh tế tài chính thế giới đã có sự thay đổi và điều này đang có những yếu tố tác động khác nhau đối với thị trường tài chính trong nước.
aa
Những tác động tới thị trường tài chính trong nước sau cuộc họp của FED

Củng cố khả năng giảm lãi suất

Vừa qua, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã hoàn thành cuộc họp chính sách tiền tệ với kết quả là vẫn tiếp tục duy trì mức cao nhất 23 năm là 5,25 - 5,5%. Đây là một kết quả không quá bất ngờ và đã được thị trường dự báo từ trước. Tuy nhiên, một nội dung quan trọng đáng quan tâm sau cuộc họp này của FED là đưa ra thông điệp có tính chắc chắn hơn về khả năng sẽ có 3 đợt giảm lãi suất trong năm nay. Cho dù tuyên bố này đi kèm với điều kiện về việc cần có thêm bằng chứng rõ rệt về sự đi xuống của lạm phát, nhưng điều này cũng đã làm thay đổi các quan điểm dự báo trước đó của thị trường tại thời điểm trước khi cuộc họp diễn ra.

Trước cuộc họp này của FED, có những thời điểm các dự báo về 3 đợt giảm lãi suất của FED trong năm 2023 có vẻ chắc chắc, nhưng sau đó, niềm tin này trở nên lung lay hơn sau khi các số liệu về chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 của Mỹ được công bố.

Cụ thể, hồi giữa tháng 3/2023, Bộ Lao động Mỹ công bố chỉ số CPI tháng 2/2024 tăng 0,4% so với tháng trước đó và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Các chỉ số này đều cao hơn dự báo của giới phân tích và cao hơn tháng 1. Trong khi lạm phát lõi (không tính giá thực phẩm và năng lượng) tăng 0,4% so với tháng trước đó và tăng 3,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Các con số này khiến cho một số nhà đầu tư tỏ ra lo lắng hơn về lộ trình cắt giảm lãi suất của FED.

Ông Stephen Juneau - nhà kinh tế tại Công ty chứng khoán Bank of America Securities, viết trong một báo cáo cho biết, một chỉ số lạm phát phù hợp với kỳ vọng sẽ giúp FED đi đúng hướng trong việc bắt đầu cắt giảm lãi suất tại cuộc họp tháng 6. Nhưng nếu CPI lõi cao hơn kỳ vọng, điều đó sẽ làm tăng khả năng FED bắt đầu chu kỳ cắt giảm lãi suất muộn hơn.

Những tác động với thị trường Việt Nam

Những tác động tới thị trường tài chính trong nước sau cuộc họp của FED

Diễn biến trên cho thấy, các thông điệp của FED sau cuộc họp vừa diễn ra đã củng cố tốt hơn niềm tin của giới tài chính đối với lộ trình giảm lãi suất của FED trong năm 2024. Công cụ FEDWatch dự báo động thái của FED cho kết quả về khả năng 63,7% FED sẽ hạ lãi suất trong cuộc họp vào tháng 6/2024, cao hơn khá nhiều so với dự báo trước khi có kết quả cuộc họp tháng 3 vừa diễn ra. Thị trường chứng khoán Mỹ cũng phản ứng tăng điểm tích cực sau khi có kết quả cuộc họp tháng 3 của FED. Chỉ số Dow Jones duy trì đà tăng liên tục trong các ngày 20 và 21/3 và đạt mốc cao nhất mọi thời đại của chỉ số này.

Tại thị trường tài chính Việt Nam, nhiều áp lực tâm lý duy trì trên thị trường trước đó cũng đã được giải tỏa. Thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn giữa tháng 3 cũng có một số phiên giảm điểm mạnh, đơn cử như phiên giao dịch 18/3, chỉ số VN-Index giảm tới trên 20 điểm. Tại thời điểm đó, một số quan điểm cho rằng ảnh hưởng tiêu cực này do tác động của việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện đợt hút tiền qua thị trường mở. Tuy nhiên, ngay thời điểm đó cũng có một số quan điểm phân tích cho rằng, sự ảnh hưởng đối với tâm lý thị trường không nằm động thái hút tiền, mà thực chất nằm ở những lo ngại về các yếu tố không chắc chắn đối với hành động của FED.

Bà Phan Thị Thu Hằng - Trưởng phòng Khối phân tích đầu tư thuộc Công ty chứng khoán VPBank cho biết, việc bán tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước không phải là yếu tố đáng lo với thị trường chứng khoán, mà cái đáng quan tâm nhất hiện này là liệu rằng FED có thực hiện cắt giảm lãi suất trong tháng 6 này hay không.

Trong khi đó, ông Đinh Quang Hinh - Trưởng Bộ phận vĩ mô và chiến lược thị trường, Khối Phân tích VNDirect, trong nhận định của mình cũng tỏ ra quan tâm về những ảnh hưởng của các hành động của FED trong tháng 6 đối với thị trường tài chính toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo ông Hinh, thị trường đang kỳ vọng những hé lộ mới về hướng đi tiếp theo của FED, cụ thể là thời điểm dự kiến bắt đầu cắt giảm lãi suất điều hành và mức độ cắt giảm dự kiến trong năm nay. “Nếu kịch bản của FED đưa ra không quá ‘diều hâu’ so với kỳ vọng trước đó của thị trường, thì chúng ta hoàn toàn có thể kỳ vọng vào sự phản ứng tích cực của các thị trường tài chính” - ông Hinh đánh giá.

Giá vàng tăng mạnh, nhưng quay đầu giảm sau đó

Sau cuộc họp tháng 3 của FED vừa diễn ra, không những thị trường chứng khoán có sự hưng phấn mà thị trường vàng cũng gia tăng sức nóng. Giá vàng thế giới bắt đầu tăng vọt từ chiều ngày 20/3 và tiếp tục duy trì sức nóng trong ngày 21/3, với đỉnh điểm có lúc vượt 2.210 USD/ounce. Tuy nhiên, giá vàng đã điều chỉnh giảm mạnh sau đó và đến sáng ngày 22/3 theo giờ Việt Nam, giá vàng đã quay về còn 2.171 USD/ounce.

Tại thị trường Việt Nam, giá vàng miếng SJC 9999 sáng ngày 22/3 cũng đã điều chỉnh giảm về mức chỉ còn 78,3 triệu đồng/lượng mua vào và 80,3 triệu đồng/lượng bán ra; giá vàng nhẫn SJC 9999 được niêm yết mức 67,9 triệu đồng/lượng mua vào và 69,2 triệu đồng/lượng bán ra.

Chí Tín

Đọc thêm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

Mặt bằng rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, trên 11% tổ chức tín dụng lo lợi nhuận giảm

(TBTCO) - Khảo sát từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, kỳ vọng tăng trưởng huy động và tín dụng năm 2026 bị điều chỉnh giảm lần lượt 0,45 điểm phần trăm và 2,1 điểm phần trăm so với kỳ trước. Rủi ro khách hàng đảo chiều tăng nhẹ, kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Đáng chú ý, 11,3% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận sụt giảm.
Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

Chính sách tín dụng đặc thù hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn

(TBTCO) - Chính sách tín dụng với người chấp hành xong án phạt tù được coi là chính sách tín dụng đặc thù và có ý nghĩa nhân văn, góp phần hỗ trợ ổn định cuộc sống và hạn chế tái phạm tội. Ngân hàng Chính sách xã hội đã chủ động triển khai, đến nay dư nợ đạt khoảng 1,2 nghìn tỷ đồng, hỗ trợ hơn 14 nghìn người chấp hành xong án phạt tù vay vốn.
Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

Shinhan Bank bứt tốc tín dụng, báo lãi trên 5.400 tỷ đồng

(TBTCO) - Shinhan Bank Việt Nam ghi nhận tổng tài sản gần 237 nghìn tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng hơn 22%, tín dụng tăng 23,8%, lãi trước thuế đạt 5.411,7 tỷ đồng, NIM duy trì 3,79%. Kết quả kinh doanh phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định, dù chịu áp lực chi phí vốn và cạnh tranh lãi suất.
Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

Lãi suất “nổi sóng", điều hành giữ nhịp tránh "giật cục"

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Giám đốc Chương trình đào tạo Thị trường Chứng khoán, Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, các chương trình “cộng lãi suất ngầm” cho thấy cạnh tranh huy động ở giai đoạn gay gắt hơn. Cần điều hành theo hướng phân tầng lãi suất, tín dụng; giữ hệ thống không rơi vào trạng thái “giật cục”.
Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

Tập đoàn Bảo Việt: Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng 16,1%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt vừa công bố kết quả kinh doanh năm 2025 (kiểm toán), theo đó, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 59.700 tỷ đồng, tăng 5% so với năm 2024. Tổng tài sản hợp nhất tại ngày 31/12/2025 đạt gần 292.000 tỷ đồng, tăng trưởng khả quan 16,1% so với 31/12/2024.
Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

Sun Life khẳng định cam kết lâu dài vì sức khỏe thế hệ trẻ với chương trình Hoops + Health 2026

(TBTCO) - Sun Life Việt Nam vừa chính thức công bố chương trình Hoops + Health năm 2026 - một dự án cộng đồng quy mô khu vực châu Á do Sun Life và tổ chức Beyond Sport đồng sáng lập - khẳng định cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy lối sống năng động và xây dựng nền tảng sức khỏe bền vững cho thanh thiếu niên châu Á thông qua bộ môn bóng rổ.
Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (1/4): DXY thủng mốc 100 điểm, tỷ giá bán USD ngân hàng vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 01/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng lên 25.105 VND/USD; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.850 - 26.360 VND/USD trong phiên hôm nay. Trước đó, tỷ giá USD chiều bán ra các ngân hàng lên kịch trần. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,26% xuống 99,7 điểm, lần đầu dưới mốc 100 điểm kể từ giữa tháng 3; kỳ vọng Mỹ sớm rút khỏi xung đột làm suy yếu vai trò trú ẩn của USD.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,370 17,670
Kim TT/AVPL 17,380 17,680
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,370 17,670
Nguyên Liệu 99.99 15,920 16,120
Nguyên Liệu 99.9 15,870 16,070
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,870 17,170
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,820 17,120
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,750 17,100
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 173,700 176,700
Hà Nội - PNJ 173,700 176,700
Đà Nẵng - PNJ 173,700 176,700
Miền Tây - PNJ 173,700 176,700
Tây Nguyên - PNJ 173,700 176,700
Đông Nam Bộ - PNJ 173,700 176,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,370 17,670
Miếng SJC Nghệ An 17,370 17,670
Miếng SJC Thái Bình 17,370 17,670
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,350 17,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,350 17,650
NL 99.90 15,870
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,900
Trang sức 99.9 16,840 17,540
Trang sức 99.99 16,850 17,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,737 17,672
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,737 17,673
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,735 1,765
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,735 1,766
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,715 175
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 166,767 173,267
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 122,513 131,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 110,262 119,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 98,011 106,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 93,285 102,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 64,232 73,132
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,737 1,767
Cập nhật: 02/04/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17747 18020 18593
CAD 18428 18705 19321
CHF 32553 32937 33581
CNY 0 3470 3830
EUR 29903 30176 31204
GBP 34212 34603 35537
HKD 0 3229 3431
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 14876 15458
SGD 19981 20264 20793
THB 723 787 840
USD (1,2) 26070 0 0
USD (5,10,20) 26111 0 0
USD (50,100) 26139 26159 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,360
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,986 30,010 31,252
JPY 161.73 162.02 170.78
GBP 34,355 34,448 35,421
AUD 17,934 17,999 18,563
CAD 18,593 18,653 19,223
CHF 32,713 32,815 33,576
SGD 20,094 20,156 20,815
CNY - 3,795 3,913
HKD 3,291 3,301 3,419
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 772 781.53 832.13
NZD 14,854 14,992 15,344
SEK - 2,753 2,833
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,674 2,752
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,111.86 - 6,857.48
TWD 744.46 - 896.33
SAR - 6,894.3 7,218.62
KWD - 83,531 88,332
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 29,882 30,002 31,178
GBP 34,215 34,352 35,350
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,429 32,559 33,474
JPY 161.75 162.40 169.70
AUD 17,868 17,940 18,525
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 788 791 826
CAD 18,591 18,666 19,228
NZD 14,885 15,413
KRW 16.73 18.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26326 26226 26360
AUD 17926 18026 18954
CAD 18602 18702 19718
CHF 32787 32817 34400
CNY 3770.7 3795.7 3931
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30071 30101 31824
GBP 34501 34551 36308
HKD 0 3355 0
JPY 162.45 162.95 173.46
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14982 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20137 20267 21002
THB 0 752.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17370000 17370000 17670000
SBJ 16000000 16000000 17670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,360
USD20 26,164 26,214 26,360
USD1 26,164 26,214 26,360
AUD 17,889 17,989 19,100
EUR 30,155 30,155 31,564
CAD 18,530 18,630 19,942
SGD 20,176 20,326 20,891
JPY 162.97 164.47 169.01
GBP 34,308 34,658 35,526
XAU 17,298,000 0 17,602,000
CNY 0 3,675 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/04/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80