Nới room - giải tỏa "cơn khát" và chưa có “khe cửa” cho kênh đầu cơ

Chí Tín
(TBTCO) - Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức nới hạn mức tăng trưởng tín dụng (room) đã góp phần giải tỏa "cơn khát" vốn cho doanh nghiệp, nhất là giai đoạn cuối năm. Trong khi đó với bối cảnh hiện tại, khả năng dòng tiền “rò rỉ” sang các kênh đầu cơ cũng khó xảy ra.
aa

Room tăng thêm 1,5 - 2% là hợp lý

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, việc quyết định điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng định hướng năm 2022 thêm khoảng 1,5 - 2% cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng trước tình hình tác động từ bên ngoài dịu bớt, thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng cải thiện hơn. Nguyên tắc điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng được thực hiện theo hướng các tổ chức tín dụng có thanh khoản tốt hơn, lãi suất thấp hơn sẽ được tăng trưởng tín dụng cao hơn.

Với quy mô tín dụng toàn nền kinh tế hiện nay, việc NHNN chính thức nới hạn mức tín dụng thêm 1,5 - 2%, tương ứng lượng vốn tín dụng tăng thêm khoảng 200.000 tỷ đồng. Với mức tăng thêm này, tăng trưởng tín dụng năm nay có thể sẽ đạt khoảng 15,5 - 16% so với cuối năm 2021, so với quy định tín dụng của hệ thống thì tổng hạn mức tín dụng cho tháng 12 vào khoảng 400.000 tỷ đồng (sau khi đã cộng cả hạn mức mới được cấp và hạn mức cũ còn lại).

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Văn Chung

Việc NHNN chính thức nới room được coi là một động thái điều hành chính sách tiền tệ khá phù hợp trong bối cảnh hiện nay, góp phần giải tỏa được phần nào "cơn khát" vốn của cộng đồng doanh nghiệp. Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính thuộc Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, việc nới room thời điểm hiện tại là hợp lý vì áp lực tỷ giá không còn mạnh như trước. Bởi lẽ, NHNN nếu rới room sớm hơn khi tỷ giá vẫn còn căng thẳng thì có thể sẽ ảnh hưởng tỷ giá và lạm phát. Trong khi đó, việc nới room nếu chậm muộn hơn thì cũng sẽ không kịp hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp, vì nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh cuối năm là rất lớn.

Trong khi đó, theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, có 3 yếu tố chính từ việc nới room vừa qua của NHNN: một là, góp phần giải tỏa nhu cầu vốn cuối năm; hai là hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh, ổn định thị trường và kinh tế vĩ mô; ba là, tác động không đáng kể đến lạm phát do tốc độ hấp thụ vốn sẽ nhanh.

Khó “rò rỉ” dòng vốn sang các kênh đầu cơ

Mặc dù được đánh giá là sẽ giải tỏa cơ khát về nhu cầu vốn, nhưng các chuyên gia cũng cho rằng, nới room cũng sẽ chỉ là một trong những giải pháp và dòng vốn cũng sẽ không vì thế mà “ồ ạt” đổ ra nền kinh tế. Bởi lẽ, các ngân hàng khi cho vay cũng sẽ còn cần cân nhắc đến nhiều vấn đề như đối tượng vay, yêu cầu cân đối nguồn tiền của chính các ngân hàng. Ngay trong nội dung quyết định nới room, NHNN cũng đặt ra yêu cầu việc mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc kiểm soát rủi ro kỳ hạn để đảm bảo thanh khoản, an toàn hoạt động.

Một trong những vấn đề được cộng đồng quan tâm quanh việc nới room lần này của NHNN là liệu rằng khi tín dụng đã được nới lỏng hơn, dòng tiền có thể lại chảy vào các kênh đầu cơ như chứng khoán, bất động sản… hay không? Trả lời câu hỏi này,

Có thể sẽ sửa Nghị định 31/2022/NĐ-CP về gói hỗ trợ 2% lãi suất

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại cuộc họp ngày 6/12, Ngân hàng Nhà nước đề xuất sửa đổi Nghị định 31 năm 2022 về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh để tiếp tục triển khai. Ngành Ngân hàng cũng phải rà soát, đánh giá lại chính sách này để có phương án phù hợp; có chính sách hỗ trợ người dân mua nhà ở xã hội; rà soát các dự án bất động sản để hỗ trợ các dự án đủ điều kiện.

TS. Nguyễn Hữu Huân cho biết, trong thông điệp của NHNN đã nêu rõ việc ưu tiên vốn cho sản xuất nên khả năng vốn chảy sang đầu cơ là rất khó. Cụ thể, Thống đốc NHNN đã đưa yêu cầu khá rõ ràng với các ngân hàng là phải cân đối vốn phù hợp để cấp tín dụng, tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ…

Theo đó, các chuyên gia cho rằng, room nới thêm lần này có thể hiểu rằng sẽ chủ yếu phục vụ nguồn vốn lưu động cuối năm cho các doanh nghiệp chứ không phải để phục vụ các dự án đầu tư hay bất động sản, chưa nói đến việc có thể có “khe cửa” cho dân đầu cơ lướt sóng bất động sản. Đặc biệt, việc kiểm soát dòng vốn tín dụng cũng là yêu cầu được đặt ra từ cấp chính phủ khi tại cuộc họp Chính phủ hôm 6/12 vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo ngành Ngân hàng phải tập trung tín dụng cho 3 động lực tăng trưởng là đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng; tăng cường giám sát, kiểm tra để tín dụng đi đúng, đi trúng mục tiêu và chống tiêu cực, tham nhũng, trục lợi chính sách.

Trong bối cảnh hiện tại, ngay cả các hoạt động vay với danh nghĩa vay tiêu dùng, nhưng dùng để đầu cơ bất động sản cũng sẽ khó xảy ra. TS. Nguyễn Hữu Huân cho biết, mặt bằng lãi suất vay tiêu dùng hiện nay cũng đã được các ngân hàng đưa lên mức khá cao. Do đó, việc mượn danh vay tiêu dùng để đầu tư bất động sản trong thời điểm hiện tại phải đối mặt với rủi ro rất lớn, nên các nhà đầu tư cũng sẽ không dám mạo hiểm trong giai đoạn này.

Hiệp hội Ngân hàng kiến nghị các giải pháp tăng thanh khoản hệ thống

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa họp với đại diện các tổ chức tín dụng hội viên để bàn về vấn đề ổn định lãi suất và các giải pháp hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt là trong những tháng cuối năm 2022.

Theo đánh giá chung của VNBA, việc điều hành chính sách tiền tệ của ngành ngân hàng đã có những đóng góp rất tích cực vào kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Lạm phát được kiểm soát ở mức khá thấp, kinh tế tăng trưởng ở mức cao so với các nước trên thế giới. Thị trường tiền tệ, ngoại hối tương đối ổn định; đồng Việt Nam kiểm soát được mức tăng thấp hơn nhiều so với các đồng tiền khác. Mặt bằng lãi suất có tăng lên phù hợp với xu hướng tăng lãi suất trên thế giới nhưng so với mặt bằng lãi suất của các nước cũng thấp hơn nhiều.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện nhiều giải pháp, giúp thanh khoản hệ thống được cải thiện. Để hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng cam kết giảm lãi suất cho vay trong các tháng cuối năm 2022 với mức lãi suất giảm từ 0,5% - 3%/năm.

Theo Tổng Thư ký VNBA Nguyễn Quốc Hùng, trong bối cảnh hiện nay, nhằm tiếp tục ổn định thị trường tiền tệ, các ngân hàng cần đồng thuận giữ mặt bằng lãi suất ổn định để đảm bảo an toàn hệ thống và hỗ trợ giảm lãi suất cho vay doanh nghiệp, người dân cũng như hỗ trợ nhau nguồn lực để thanh khoản hệ thống thông suốt. Bên cạnh đó, cần trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, đẩy mạnh truyền thông để dư luận hiểu và chia sẻ hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Đại diện VNBA kiến nghị Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (thuộc NHNN) tham mưu cho Thống đốc NHNN để tiếp tục có những thông điệp cụ thể đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, tạo sự an tâm hoạt động an toàn, hiệu quả.

Cụ thể, VNBA cũng đề xuất NHNN tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng qua tăng cường các công cụ thị trường mở (OMO)…, ưu tiên đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của các ngân hàng qua kênh OMO. Giải pháp này kỳ vọng làm giảm áp lực dự phòng thanh khoản cao của ngân hàng, góp phần làm giảm lãi suất giao dịch liên ngân hàng cũng như giảm lãi suất huy động từ khách hàng.

Về dài hạn, Tổng Thư ký Nguyễn Quốc Hùng cũng mong các cơ quan soạn thảo các dự thảo của NHNN lắng nghe đầy đủ những ý kiến đóng góp của VNBA đối với dự thảo sửa đổi, bổ sung một số các văn bản luật, hoàn thiện khung pháp lý cho các tổ chức tín dụng hoạt động ổn định, lành mạnh, hiệu quả. Dự kiến, VNBA sẽ tổng hợp những vướng mắc của các tổ chức tín dụng và đề xuất bằng văn bản các giải pháp cụ thể tới Thống đốc NHNN để tháo gỡ cho các tổ chức tín dụng ổn định thanh khoản và mặt bằng lãi suất huy động.

Chí Tín

Đọc thêm

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 03/09/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 03/09/2026 07:30
Ngân hàng