Nới room - giải tỏa "cơn khát" và chưa có “khe cửa” cho kênh đầu cơ

Chí Tín
(TBTCO) - Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chính thức nới hạn mức tăng trưởng tín dụng (room) đã góp phần giải tỏa "cơn khát" vốn cho doanh nghiệp, nhất là giai đoạn cuối năm. Trong khi đó với bối cảnh hiện tại, khả năng dòng tiền “rò rỉ” sang các kênh đầu cơ cũng khó xảy ra.
aa

Room tăng thêm 1,5 - 2% là hợp lý

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, việc quyết định điều chỉnh chỉ tiêu tín dụng định hướng năm 2022 thêm khoảng 1,5 - 2% cho toàn hệ thống các tổ chức tín dụng trước tình hình tác động từ bên ngoài dịu bớt, thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng cải thiện hơn. Nguyên tắc điều chỉnh tăng chỉ tiêu tín dụng được thực hiện theo hướng các tổ chức tín dụng có thanh khoản tốt hơn, lãi suất thấp hơn sẽ được tăng trưởng tín dụng cao hơn.

Với quy mô tín dụng toàn nền kinh tế hiện nay, việc NHNN chính thức nới hạn mức tín dụng thêm 1,5 - 2%, tương ứng lượng vốn tín dụng tăng thêm khoảng 200.000 tỷ đồng. Với mức tăng thêm này, tăng trưởng tín dụng năm nay có thể sẽ đạt khoảng 15,5 - 16% so với cuối năm 2021, so với quy định tín dụng của hệ thống thì tổng hạn mức tín dụng cho tháng 12 vào khoảng 400.000 tỷ đồng (sau khi đã cộng cả hạn mức mới được cấp và hạn mức cũ còn lại).

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Văn Chung
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Văn Chung

Việc NHNN chính thức nới room được coi là một động thái điều hành chính sách tiền tệ khá phù hợp trong bối cảnh hiện nay, góp phần giải tỏa được phần nào "cơn khát" vốn của cộng đồng doanh nghiệp. Trao đổi với phóng viên TBTCVN, TS. Nguyễn Hữu Huân - Trưởng bộ môn Thị trường tài chính thuộc Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, việc nới room thời điểm hiện tại là hợp lý vì áp lực tỷ giá không còn mạnh như trước. Bởi lẽ, NHNN nếu rới room sớm hơn khi tỷ giá vẫn còn căng thẳng thì có thể sẽ ảnh hưởng tỷ giá và lạm phát. Trong khi đó, việc nới room nếu chậm muộn hơn thì cũng sẽ không kịp hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp, vì nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh cuối năm là rất lớn.

Trong khi đó, theo TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, có 3 yếu tố chính từ việc nới room vừa qua của NHNN: một là, góp phần giải tỏa nhu cầu vốn cuối năm; hai là hỗ trợ doanh nghiệp phát triển kinh doanh, ổn định thị trường và kinh tế vĩ mô; ba là, tác động không đáng kể đến lạm phát do tốc độ hấp thụ vốn sẽ nhanh.

Khó “rò rỉ” dòng vốn sang các kênh đầu cơ

Mặc dù được đánh giá là sẽ giải tỏa cơ khát về nhu cầu vốn, nhưng các chuyên gia cũng cho rằng, nới room cũng sẽ chỉ là một trong những giải pháp và dòng vốn cũng sẽ không vì thế mà “ồ ạt” đổ ra nền kinh tế. Bởi lẽ, các ngân hàng khi cho vay cũng sẽ còn cần cân nhắc đến nhiều vấn đề như đối tượng vay, yêu cầu cân đối nguồn tiền của chính các ngân hàng. Ngay trong nội dung quyết định nới room, NHNN cũng đặt ra yêu cầu việc mở rộng tín dụng phải đi đôi với việc kiểm soát rủi ro kỳ hạn để đảm bảo thanh khoản, an toàn hoạt động.

Một trong những vấn đề được cộng đồng quan tâm quanh việc nới room lần này của NHNN là liệu rằng khi tín dụng đã được nới lỏng hơn, dòng tiền có thể lại chảy vào các kênh đầu cơ như chứng khoán, bất động sản… hay không? Trả lời câu hỏi này,

Có thể sẽ sửa Nghị định 31/2022/NĐ-CP về gói hỗ trợ 2% lãi suất

Theo chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại cuộc họp ngày 6/12, Ngân hàng Nhà nước đề xuất sửa đổi Nghị định 31 năm 2022 về hỗ trợ lãi suất từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh để tiếp tục triển khai. Ngành Ngân hàng cũng phải rà soát, đánh giá lại chính sách này để có phương án phù hợp; có chính sách hỗ trợ người dân mua nhà ở xã hội; rà soát các dự án bất động sản để hỗ trợ các dự án đủ điều kiện.

TS. Nguyễn Hữu Huân cho biết, trong thông điệp của NHNN đã nêu rõ việc ưu tiên vốn cho sản xuất nên khả năng vốn chảy sang đầu cơ là rất khó. Cụ thể, Thống đốc NHNN đã đưa yêu cầu khá rõ ràng với các ngân hàng là phải cân đối vốn phù hợp để cấp tín dụng, tập trung vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, nhất là lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp phụ trợ…

Theo đó, các chuyên gia cho rằng, room nới thêm lần này có thể hiểu rằng sẽ chủ yếu phục vụ nguồn vốn lưu động cuối năm cho các doanh nghiệp chứ không phải để phục vụ các dự án đầu tư hay bất động sản, chưa nói đến việc có thể có “khe cửa” cho dân đầu cơ lướt sóng bất động sản. Đặc biệt, việc kiểm soát dòng vốn tín dụng cũng là yêu cầu được đặt ra từ cấp chính phủ khi tại cuộc họp Chính phủ hôm 6/12 vừa qua, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chỉ đạo ngành Ngân hàng phải tập trung tín dụng cho 3 động lực tăng trưởng là đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng; tăng cường giám sát, kiểm tra để tín dụng đi đúng, đi trúng mục tiêu và chống tiêu cực, tham nhũng, trục lợi chính sách.

Trong bối cảnh hiện tại, ngay cả các hoạt động vay với danh nghĩa vay tiêu dùng, nhưng dùng để đầu cơ bất động sản cũng sẽ khó xảy ra. TS. Nguyễn Hữu Huân cho biết, mặt bằng lãi suất vay tiêu dùng hiện nay cũng đã được các ngân hàng đưa lên mức khá cao. Do đó, việc mượn danh vay tiêu dùng để đầu tư bất động sản trong thời điểm hiện tại phải đối mặt với rủi ro rất lớn, nên các nhà đầu tư cũng sẽ không dám mạo hiểm trong giai đoạn này.

Hiệp hội Ngân hàng kiến nghị các giải pháp tăng thanh khoản hệ thống

Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) vừa họp với đại diện các tổ chức tín dụng hội viên để bàn về vấn đề ổn định lãi suất và các giải pháp hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, đặc biệt là trong những tháng cuối năm 2022.

Theo đánh giá chung của VNBA, việc điều hành chính sách tiền tệ của ngành ngân hàng đã có những đóng góp rất tích cực vào kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Lạm phát được kiểm soát ở mức khá thấp, kinh tế tăng trưởng ở mức cao so với các nước trên thế giới. Thị trường tiền tệ, ngoại hối tương đối ổn định; đồng Việt Nam kiểm soát được mức tăng thấp hơn nhiều so với các đồng tiền khác. Mặt bằng lãi suất có tăng lên phù hợp với xu hướng tăng lãi suất trên thế giới nhưng so với mặt bằng lãi suất của các nước cũng thấp hơn nhiều.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện nhiều giải pháp, giúp thanh khoản hệ thống được cải thiện. Để hỗ trợ nền kinh tế, nhiều ngân hàng cam kết giảm lãi suất cho vay trong các tháng cuối năm 2022 với mức lãi suất giảm từ 0,5% - 3%/năm.

Theo Tổng Thư ký VNBA Nguyễn Quốc Hùng, trong bối cảnh hiện nay, nhằm tiếp tục ổn định thị trường tiền tệ, các ngân hàng cần đồng thuận giữ mặt bằng lãi suất ổn định để đảm bảo an toàn hệ thống và hỗ trợ giảm lãi suất cho vay doanh nghiệp, người dân cũng như hỗ trợ nhau nguồn lực để thanh khoản hệ thống thông suốt. Bên cạnh đó, cần trích lập dự phòng rủi ro đầy đủ, đẩy mạnh truyền thông để dư luận hiểu và chia sẻ hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Đại diện VNBA kiến nghị Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (thuộc NHNN) tham mưu cho Thống đốc NHNN để tiếp tục có những thông điệp cụ thể đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, tạo sự an tâm hoạt động an toàn, hiệu quả.

Cụ thể, VNBA cũng đề xuất NHNN tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng qua tăng cường các công cụ thị trường mở (OMO)…, ưu tiên đáp ứng tối đa nhu cầu vốn của các ngân hàng qua kênh OMO. Giải pháp này kỳ vọng làm giảm áp lực dự phòng thanh khoản cao của ngân hàng, góp phần làm giảm lãi suất giao dịch liên ngân hàng cũng như giảm lãi suất huy động từ khách hàng.

Về dài hạn, Tổng Thư ký Nguyễn Quốc Hùng cũng mong các cơ quan soạn thảo các dự thảo của NHNN lắng nghe đầy đủ những ý kiến đóng góp của VNBA đối với dự thảo sửa đổi, bổ sung một số các văn bản luật, hoàn thiện khung pháp lý cho các tổ chức tín dụng hoạt động ổn định, lành mạnh, hiệu quả. Dự kiến, VNBA sẽ tổng hợp những vướng mắc của các tổ chức tín dụng và đề xuất bằng văn bản các giải pháp cụ thể tới Thống đốc NHNN để tháo gỡ cho các tổ chức tín dụng ổn định thanh khoản và mặt bằng lãi suất huy động.

Chí Tín

Đọc thêm

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Kim TT/AVPL 17,200 ▲110K 17,500 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▼40K 17,200 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▼40K 17,150 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▼40K 17,130 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Nghệ An 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Thái Bình 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 ▲90K 17,360 ▲90K
Trang sức 99.99 16,670 ▲90K 17,370 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 ▲11K 17,492 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 ▲11K 17,493 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 ▲11K 1,747 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 ▲11K 1,748 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 ▲11K 1,732 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 ▲1089K 171,485 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 ▲825K 130,063 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 ▲98209K 117,938 ▲106219K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 ▲672K 105,813 ▲672K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 ▲642K 101,136 ▲642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 ▲459K 72,382 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cập nhật: 31/03/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17524 17796 18372
CAD 18358 18634 19251
CHF 32253 32636 33276
CNY 0 3470 3830
EUR 29577 29849 30875
GBP 34000 34389 35317
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14723 15313
SGD 19873 20155 20672
THB 715 778 831
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,677 29,701 30,930
JPY 160.34 160.63 169.3
GBP 34,129 34,221 35,191
AUD 17,699 17,763 18,320
CAD 18,540 18,600 19,165
CHF 32,513 32,614 33,371
SGD 19,979 20,041 20,698
CNY - 3,777 3,894
HKD 3,291 3,301 3,418
KRW 15.87 16.55 17.89
THB 762.53 771.95 821.41
NZD 14,708 14,845 15,193
SEK - 2,704 2,783
DKK - 3,973 4,088
NOK - 2,645 2,722
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,086.98 - 6,832.92
TWD 740.96 - 892.12
SAR - 6,896.44 7,219.72
KWD - 83,467 88,265
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17713 17813 18738
CAD 18543 18643 19658
CHF 32499 32529 34111
CNY 3753.9 3778.9 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29764 29794 31517
GBP 34321 34371 36124
HKD 0 3355 0
JPY 161.49 161.99 172.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14839 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20029 20159 20892
THB 0 744.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17200000 17200000 17600000
SBJ 16000000 16000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,357
USD20 26,169 26,219 26,357
USD1 26,169 26,219 26,357
AUD 17,784 17,884 18,990
EUR 29,913 29,913 31,324
CAD 18,500 18,600 19,908
SGD 20,112 20,262 20,826
JPY 161.97 163.47 168.01
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,188,000 0 17,492,000
CNY 0 3,663 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80