Qua 3 tuần hút tiền trên thị trường mở, tỷ giá tự do hạ nhiệt

Chí Tín
(TBTCO) - Đợt phát hành tín phiếu của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đến nay đã kéo dài 3 tuần và qua đó tỷ giá - nhất là trên thị trường tự do đã đi vào chu kỳ ổn định hơn so với hồi đầu tháng 3. Trong khi đó, thị trường chứng khoán 3 tuần qua cũng không bị sụt giảm như một số lo lắng trong những ngày đầu NHNN thực hiện đợt hút tiền lần này.
aa

Khối lượng phát hành giảm

Cho đến thời điểm này, đợt bán tín phiếu của NHNN đã kéo dài hết tuần thứ 3 liên tục và quãng thời gian đã tương đương phân nửa so với quãng thời gian bán tín phiếu kéo dài 1,5 tháng giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 10/2023.

Diễn biễn tuần thứ 3 trên thị trường mở đã có một số thay đổi so với 2 tuần đầu. Thời gian đầu lượng tín phiếu bán ra trung bình thường khoảng xấp xỉ 15 nghìn tỷ đồng mỗi ngày, nhưng trong những phiên gần đây lượng tín phiếu bán ra chỉ vài nghìn tỷ đồng. Chẳng hạn như phiên 26/3, lượng tín phiếu phát hành chỉ là 3,7 nghìn tỷ đồng; phiên 28/3 cũng chỉ là 4,6 nghìn tỷ đồng.

Tuy nhiên, lãi suất tín phiếu đã có thay đổi theo chiều hướng tăng dần. Trong thời gian đầu, lãi suất trúng thầu tín phiếu chỉ khoảng 1,4%/năm, nhưng sau đó nhích dần lên, đến phiên 26/3 đã tăng lên 1,9%/năm và phiên 28/3 tăng mạnh lên 2,8%/năm.

Qua 3 tuần hút tiền trên thị trường mở, tỷ giá tự do hạ nhiệt
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Đồ họa: Văn Chung

Đến thời điểm này, những lo lắng ban đầu của một số nhà đầu tư về khả năng “lịch sử lặp lại” ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán như đã diễn ra hồi cách đây nửa năm đã không xảy ra.

Trong lần bán tín phiếu trước của NHNN, thị trường chứng khoán giảm điểm mạnh khi chỉ số VN-Index rơi từ mốc 1.250 điểm xuống dưới 1.230 điểm chỉ trong vòng khoảng 1,5 tháng. Tuy nhiên, diễn biến lần này đã khác, thị trường chứng khoán dù có một số phiên chao đảo trong những ngày đầu NHNN bán tín phiếu, chủ yếu do yếu tố tâm lý, sau đó vẫn tiếp tục thu hút dòng tiền khá tốt và xu hướng thị trường vẫn là đi lên.

Chỉ số VN-Index đã tăng từ 1.235 điểm hôm 11/3, đến nay đã lên mặt bằng mới tiếp cận mốc trên 1.280 điểm, bất chấp những ảnh hưởng do sự cố công nghệ tại Công ty chứng khoán VNDirect xảy ra mấy ngày gần đây.

Tỷ giá tự do hạ nhiệt

Ở góc độ thị trường tiền tệ, động thái hút tiền của NHNN trong cả 2 thời kỳ đều là giai đoạn tỷ giá có những diễn biến “gợn sóng”. Cụ thể, thời kỳ cách đây khoảng nửa năm, tỷ giá bắt đầu có tín hiệu nhúc nhích tăng kể từ quý III/2023 và đặc biệt vào cuối quý.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, giá USD riêng tháng 9/2023 đã tăng 1,53%, cao hơn số lũy kế của cả 9 tháng cộng lại (9 tháng tăng 0,35% so với tháng 12/2022). Theo đó, đánh giá về động thái bán tín phiếu của NHNN thời điểm đó, ông Nguyễn Đắc Toại, Chuyên viên tư vấn thuộc Công ty chứng khoán SSI cho biết, đó là quyết định kịp thời của NHNN để giảm thiểu đầu cơ tỷ giá trong hệ thống ngân hàng.

Trong khi đó, với bối cảnh thị trường tiền tệ giai đoạn tháng 3/2024, tỷ giá cũng có một số giai đoạn tăng. Tại thời điểm đầu tháng 3/2024, tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại có lúc tiến sát mốc 25.000 đồng/USD, còn tỷ giá thị trường tự do có thời điểm lên mốc 25.900 đồng/USD. Thời điểm đó, có nhiều quan điểm đồn đoán về lý do tỷ giá tăng khi có những nghi ngờ USD bị mua gom để đầu cơ vàng.

Qua 3 tuần hút tiền trên thị trường mở, tỷ giá tự do hạ nhiệt
Ảnh minh họa

Trong khi đó, cũng có ý kiến cho rằng các ngân hàng đang dư thừa quá nhiều tiền trong bối cảnh tín dụng 2 tháng đầu năm tăng trưởng âm nên tăng các nghiệp vụ phòng vệ tỷ giá khiến cho tỷ giá càng tăng cao hơn. Theo đó, việc NHNN thực hiện bán tín phiếu là động thái khá kịp thời để hút bớt dòng tiền dư thừa trong hệ thống ngân hàng.

Thực tế diễn biến tỷ giá giai đoạn hiện nay cho thấy, tỷ giá trên thị trường tự do đã dịu hơn so với thời điểm khoảng 3 tuần trước đây, chỉ còn dưới 25.500 đồng/USD và chênh lệch tỷ giá thị trường tự do với tỷ giá công bố chính thức của các ngân hàng cũng đã thu hẹp hơn nhiều so với trước.

Từ góc độ thị trường quốc tế, hiện tại chỉ số DXY trên thị trường quốc tế chỉ khoảng 104 điểm, thấp hơn so với mức đỉnh có lúc tiến sát gần 107 điểm thời kỳ tháng 9/2023 nên đồng nội tệ cũng không chịu tác động đáng kể từ các ảnh hưởng do việc tăng giá đồng Đô la Mỹ.

Với các yếu tố trong nước, TS. Nguyễn Đức Độ - Phó Viện trưởng Viện Kinh tế - Tài chính, thuộc Học viện Tài chính cho biết, nhìn vào diễn biến kinh tế vĩ mô thời gian qua và dự báo giai đoạn tới thì áp lực tỷ giá sẽ không quá lớn về mặt trung và dài hạn do trạng thái xuất siêu vẫn duy trì trong thời gian dài.

Thương mại hàng hóa xuất siêu gần 3 tỷ USD

Theo Tổng cục Thống kê, cán cân thương mại hàng hóa tháng 3/2024 ước tính xuất siêu 2,93 tỷ USD. Tính chung quý I/2024, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 8,08 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 4,93 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,49 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 12,57 tỷ USD.

Chí Tín

Đọc thêm

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

(TBTCO) - Ngày 29/9/2026 vừa qua, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) và Tổng công ty Truyền thông - Chi nhánh Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Tổng công ty VNPT-Media) đã chính thức tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác. Sự kiện mở ra giai đoạn hợp tác mới giữa hai đơn vị, kết nối năng lực bảo hiểm của MIC với thế mạnh về công nghệ, nền tảng và hệ sinh thái khách hàng của VNPT, hướng tới nâng cao giá trị và trải nghiệm cho khách hàng.
Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

(TBTCO) - Một lần quét QR giúp người Việt thanh toán tại nhiều quốc gia và ngược lại, nhưng phía sau là hệ thống phức tạp cùng nỗ lực của nhiều bên. VietQR Global hiện phủ hơn 6% điểm chấp nhận trong nước, với nhiều dư địa mở rộng, song bài toán không chỉ là độ phủ, kết nối thêm thị trường mà còn gia tăng giao dịch thực tế.
Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

Hé lộ triển vọng lợi nhuận ngân hàng quý III khi lãi suất thả nổi, cho vay dài hạn hơn

(TBTCO) - MBS dự báo lợi nhuận các ngân hàng niêm yết trong danh sách theo dõi tăng 19,1% trong quý III/2026, dẫn dắt bởi nhóm ngân hàng quốc doanh. Cùng góc nhìn tích cực, VCBS cho rằng lợi nhuận ngành tăng nhờ đẩy nhanh giải ngân tín dụng. Tuy nhiên, các bên phân tích lưu ý áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu và chất lượng tài sản có sự phân hóa.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17497 17769 18342
CAD 17759 18033 18647
CHF 30682 31058 31706
CNY 0 3835 3930
EUR 28624 28841 29919
GBP 33543 33931 34862
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14280 14870
SGD 19780 20061 20629
THB 690 753 805
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26180
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 28,653 28,676 30,037
JPY 160.03 160.32 170.03
GBP 33,691 33,782 34,953
AUD 17,671 17,735 18,408
CAD 17,933 17,991 18,655
CHF 30,895 30,991 31,915
SGD 19,876 19,938 20,729
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,246 3,256 3,392
KRW 17.63 18.39 20
THB 736.73 745.83 798.58
NZD 14,252 14,384 14,814
SEK - 2,545 2,635
DKK - 3,843 3,979
NOK - 2,653 2,747
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.98 - 6,710.21
TWD 734.78 - 890.21
SAR - 6,804.67 7,168.21
KWD - 82,140 87,404
AED - 6,821 7,350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 17621 17721 18651
CAD 17909 18009 19026
CHF 30822 30852 32433
CNY 3816.7 3841.7 3976.8
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28749 28779 30502
GBP 33768 33818 35578
HKD 0 3315 0
JPY 160.87 161.37 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14335 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19899 20029 20751
THB 0 716.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Cập nhật: 02/10/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30