Tăng tốc ngân hàng số trong lằn ranh giữa thời cơ và gian khó

Chí Tín
(TBTCO) - Các ngân hàng được đặt ra yêu cầu tiếp tục giảm chi phí hoạt động, giảm lãi suất đầu ra và giải pháp chuyển đổi số là yêu cầu đặt ra với nhiều biến số phực tạp đan xen. Trong đó, những lợi ích từ đòn bẩy công nghệ có thể nhìn thấy rõ, nhưng cuộc chiến với rủi ro tội phạm và an ninh mạng cũng đặt ra nhiều khó khăn thách thức.
aa
Tăng tốc ngân hàng số trong lằn ranh giữa thời cơ và gian khó
MB là ngân hàng đầu tiên thực hiện xác thực sinh trắc học theo yêu cầu của Quyết định 2345. Ảnh minh họa

Tăng tốc chuyển đổi số

Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, thời gian qua nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn 100% (tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi có kỳ hạn, mở và sử dụng tài khoản thanh toán, mở thẻ ngân hàng, ví điện tử, chuyển tiền...). Điều này đã cùng lúc giải quyết được 2 vấn đề, một phần ngân hàng có thể giảm đáng kể chi phí nhân lực khi nhiều khâu đã được tự động hóa thay vì phải có nhân sự vận hành. Trong khi đó, tiện ích của khách hàng sử dụng dịch vụ được gia tăng gấp nhiều lần trước đây, chẳng hạn việc gửi tiết kiệm trực tuyến chỉ cần một vài thao tác, thay vì đến tận quầy giao dịch mất khá nhiều thời gian.

95% số giao dịch được xử lý trên kênh số

Ngan hàng Nhà nước cho biết, đến nay, hơn 87% người trưởng thành đã có tài khoản thanh toán tại ngân hàng và nhiều ngân hàng đã có trên 95% số lượng giao dịch được xử lý trên kênh số. Tăng trưởng về số lượng giao dịch thanh toán qua di động (Mobile) và QR code bình quân qua các năm từ 2017-2023 đạt trên 100%/năm.

Đến nay, nhiều ngân hàng Việt Nam có tỷ lệ trên 90% giao dịch thực hiện trên kênh số. Giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 56,57% về số lượng và 31,35% về giá trị; qua kênh Internet tăng tương ứng 48,81% và 25,73%; qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 58,70% và 33,12%.

Ông Phạm Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ thanh toán thuộc NHNN cho biết, thời gian qua NHNN cũng đã hỗ trợ các tổ chức tín dụng (TCTD) phối hợp với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ thân thiện, an toàn tiện lợi, tiết giảm chi phí. Nhiều ngân hàng trong nước đã thí điểm và triển khai rộng rãi mô hình chi nhánh tự phục vụ cho phép khách hàng tự thực hiện.

Thách thức còn bộn bề

Bên cạnh những lợi ích khá rõ ràng như trên, các ngân hàng nói riêng và các tổ chức tài chính nói chung cũng luôn phải xác định tinh thần “chung sống với những khó khăn” khi mở rộng ứng dụng công nghệ. Đơn cử như vụ việc hacker tấn công hệ thống công nghệ của Công ty chứng khoán VNDirect diễn ra hồi cuối tháng 3/2024 là một ví dụ cho thấy, các tổ chức tài chính luôn là “đối tượng” số một của tội phạm công nghệ.

Trong bối cảnh hiện nay, thời gian qua các TCTD cũng đang tích cực phối hợp với các doanh nghiệp được Bộ Công an cấp giấy phép cung cấp giải pháp xác thực người dùng bằng thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chip để tổ chức triển khai giải pháp xác thực khách hàng. Trong đó có nhiều TCTD đã ký kết hợp đồng, đang triển khai thực tế: 48 TCTD đã và đang triển khai ứng dụng xác thực khách hàng bằng thẻ CCCD gắn chíp qua ứng dụng điện thoại; 60 TCTD đã và đang triển khai ứng dụng xác thực khách hàng bằng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy.

Về làm sạch dữ liệu, đến nay đã có 24 TCTD đã ký kết với C06 (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an) triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng theo phương thức offline. Có 19 TCTD đang triển khai thử nghiệm ứng dụng tài khoản định danh và xác thực điện tử (VNeID) vào các nghiệp vụ: mở tài khoản thanh toán; xác thực giao dịch thanh toán; đối chiếu, xác thực thông tin khách hàng; 7 TCTD đã và đang triển khai giải pháp chấm điểm khả tín.

Ngoài ra, Quyết định số 2345/QĐ-NHNN đã đưa ra một số quy định nhằm tăng cường các giải pháp an toàn, bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng. Theo đó, các TCTD đã phải áp dụng xác thực bằng sinh trắc học cho các giao dịch có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên.

Các quy định trên sẽ có hiệu lực từ 1/7/2024, nhưng thời gian qua cũng có một số ngân hàng triển khai sớm hơn yêu cầu pháp luật, chẳng hạn Ngân hàng MB cho biết từ tháng 4/2024 đã triển khai giải pháp chuyển khoản phải xác thực khuôn mặt và với động thái này, MB hiện cũng là ngân hàng đầu tiên thực xác thực sinh trắc học theo yêu cầu của Quyết định 2345.

Tăng tốc ngân hàng số trong lằn ranh giữa thời cơ và gian khó

ÔNG NGUYỄN HƯNG NGUYÊN - PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC NAPAS:

Triển khai các giải pháp phát hiện sớm gian lận

Với tốc độ tăng trưởng nhanh của các giao dịch thanh toán điện tử như hiện nay, khoảng 20%/năm thì nhiệm vụ quan trọng của NAPAS chính là đảm bảo hệ thống hạ tầng thanh toán quốc gia được an toàn, ổn định và thông suốt. Song song với đó là việc đảm bảo chi phí xử lý giao dịch thấp nhất có thể, qua đó cung cấp nền tảng thanh toán góp phần phổ cập tài chính toàn diện.

NAPAS cũng đưa ra các giải pháp thanh toán mới qua thẻ, tài khoản như giải pháp số hoá điểm chấp nhận thanh toán (Tap to phone), cho phép biến chiếc điện thoại di động thành máy thanh toán thẻ (Soft POS); dịch vụ số hóa thẻ trên nền tảng thiết bị di động và các website/ ứng dụng thương mại điện tử (Tap to pay) dự kiến sớm được ra mắt trong thời gian tới.

Liên quan đến vấn đề lừa đảo trực tuyến thời gian gần đây, NAPAS đang phối hợp các ngân hàng và cơ quan quản lý đưa ra thêm 1 số giải pháp bổ trợ nhằm giám sát, phát hiện sớm tài khoản có dấu hiệu gian lận, giả mạo nhằm hạn chế rủi ro cho khách hàng khi thực hiện giao dịch./.

Tăng tốc ngân hàng số trong lằn ranh giữa thời cơ và gian khó

ÔNG TRẦN LONG - PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC BIDV:

Cần quan tâm các yếu tố quản trị dữ liệu, an toàn bảo mật

70.000 doanh nghiệp công nghệ thông tin đang cung cấp dịch vụ chuyển đổi số, 18.000 doanh nghiệp cung cấp phần mềm tại Việt Nam hợp tác với bên thứ ba mang đến tiềm năng phủ sóng mạnh mẽ dịch vụ ngân hàng trên các kênh số… Có thể thấy, tiềm năng phát triển ngân hàng mở tại Việt Nam là vô cùng lớn.

BIDV đã xác định “Công nghệ và chuyển đổi số” là một trong 3 trụ cột chính trong chiến lược hoạt động và đã đầu tư nguồn lực rất lớn cho hoạt động chuyển đổi số và liên tục ra mắt các giải pháp tài chính sáng tạo mới, trong đó có những kết quả trong hoạt động ngân hàng mở mà BIDV đã và đang mang đến cho khách hàng trên nền tảng Open API.

Trong thời gian tới, BIDV sẽ tiếp tục mở rộng các gói API mới cho các dịch vụ tài trợ thương mại, bảo lãnh, tài trợ chuỗi cung ứng thông qua liên kết giữa các doanh nghiệp trung tâm và các nhà phân phối, nhà cung cấp.

Để hoạt động ngân hàng mở thực sự mang giá trị cho khách hàng và nền kinh tế, không chỉ cần đầu tư vào hệ thống công nghệ, các ngân hàng còn cần quan tâm chú trọng đến quản trị dữ liệu, an toàn bảo mật trong quá trình lựa chọn đối tác và cung cấp hạ tầng cho giao dịch.

Tăng tốc ngân hàng số trong lằn ranh giữa thời cơ và gian khó

ÔNG VŨ THÀNH TRUNG - THÀNH VIÊN BAN ĐIỀU HÀNH NGÂN HÀNG MB:

Xu hướng sử dụng dịch vụ ngân hàng đa nền tảng

Sự bùng nổ của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã thay đổi hoàn toàn hành vi của khách hàng trong mọi lĩnh vực của đời sống, trong đó có tài chính - ngân hàng. Xu hướng mới của khách hàng hiện tại là sử dụng dịch vụ ngân hàng trên đa nền tảng một cách thuận tiện mà không nhất thiết phải trên nền tảng của ngân hàng.

Dịch vụ đa nền tảng cho phép bên thứ ba kết nối với hệ thống của ngân hàng thông qua API để cung cấp các dịch vụ tài chính - ngân hàng đến khách hàng trên nền tảng của đối tác. Việc này đảm bảo hành trình mua sắm của khách hàng dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện nhất. Khách hàng cá nhân hoàn toàn có thể thanh toán hóa đơn mua trên các sàn thương mại điện tử mà không cần đăng nhập vào ứng dụng ngân hàng.

Chí Tín

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,690 ▼160K 16,990 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,700 ▼160K 17,000 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,690 ▼160K 16,990 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 166,900 ▼1600K 169,900 ▼1600K
Hà Nội - PNJ 166,900 ▼1600K 169,900 ▼1600K
Đà Nẵng - PNJ 166,900 ▼1600K 169,900 ▼1600K
Miền Tây - PNJ 166,900 ▼1600K 169,900 ▼1600K
Tây Nguyên - PNJ 166,900 ▼1600K 169,900 ▼1600K
Đông Nam Bộ - PNJ 166,900 ▼1600K 169,900 ▼1600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 16,760 ▼90K 17,060 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,760 ▼40K 17,060 ▼40K
NL 99.90 15,570 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,600 ▼100K
Trang sức 99.9 16,250 ▼40K 16,950 ▼40K
Trang sức 99.99 16,260 ▼40K 16,960 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,676 ▼9K 17,062 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,676 ▼9K 17,063 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,674 ▼9K 1,704 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,674 ▼9K 1,705 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,654 ▼9K 1,689 ▼9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,728 ▼891K 167,228 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,938 ▼675K 126,838 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,113 ▼613K 115,013 ▼613K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,289 ▼549K 103,189 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,729 ▼524K 98,629 ▼524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,688 ▼376K 70,588 ▼376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,676 ▼9K 1,706 ▼9K
Cập nhật: 27/03/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17602 17875 18448
CAD 18486 18763 19381
CHF 32484 32868 33516
CNY 0 3470 3830
EUR 29758 30031 31061
GBP 34337 34728 35662
HKD 0 3234 3436
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14869 15457
SGD 19956 20239 20756
THB 715 779 831
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17762 17862 18784
CAD 18660 18760 19776
CHF 32743 32773 34360
CNY 3752.4 3777.4 3913.2
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29936 29966 31689
GBP 34632 34682 36446
HKD 0 3355 0
JPY 161.63 162.13 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14963 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20110 20240 20961
THB 0 743.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16900000 16900000 17400000
SBJ 15000000 15000000 17400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80