Tăng trưởng chững lại, ngành cho thuê tài chính tìm "chân trời mới" nhờ chính sách mở lối

(TBTCO) - Dư nợ cho thuê tài chính quý I/2025 đạt gần 40.700 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ nhưng giữ nguyên so với cuối năm 2024. Ngành cho thuê tài chính kỳ vọng bứt phá nhờ sửa đổi Thông tư 26/2024/TT-NHNN, mở rộng danh mục tài sản cho thuê và loạt giải pháp phát triển do Hiệp hội Cho thuê tài chính đề xuất.
aa

Thị trường cho thuê tài chính nhiều triển vọng khi được gỡ khó về pháp lý Ngành cho thuê tài chính dự kiến tăng trưởng 18 - 20%

Ngày 22/5, Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam tổ chức cuộc họp báo trao đổi về một số hoạt động ngành cho thuê tài chính.

Dư nợ cho thuê nhiều loại tài sản tăng bứt phá

Thông tin về một số kết quả hoạt động ngành cho thuê tài chính quý I/2025, ông Phạm Xuân Hoè - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính cho biết, dư nợ cho thuê tài chính đạt gần 40.700 tỷ đồng, tăng trưởng 8,4% so với cùng kỳ năm 2024, nhưng không tăng so với thời điểm cuối năm 2024.

Theo lý giải của Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính, các khoản nợ xấu phát sinh vào cuối năm 2024 buộc phải được xử lý thông qua việc trích lập và sử dụng quỹ dự phòng rủi ro. Điều này khiến dư nợ cho thuê tài chính bị sụt giảm, do đó, mức tăng dư nợ trong quý I/2025 mới chỉ vừa đủ để bù đắp lại phần suy giảm của quý trước đó.

Tăng trưởng chững lại, ngành cho thuê tài chính tìm
Ông Phạm Xuân Hoè - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam.

“Chân trời mới” mở ra khi sửa đổi Thông tư 26

"Việc sửa đổi Thông tư 26 mở rộng nhiều đối tượng mới được phép cho thuê, tạo kỳ vọng tăng trưởng ở các loại tài sản mới như: phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ, dữ liệu hay các tài sản vô hình khác. Tất nhiên, để phát triển được các loại hình tài sản này tại Việt Nam sẽ cần một quá trình nghiên cứu, không thể kỳ vọng đạt kết quả một sớm một chiều. Dẫu vậy, tôi cho rằng đây chính là chân trời mới sẽ rộng mở, hứa hẹn nhiều tiềm năng và cơ hội mới" - ông Hoè kỳ vọng.

Cùng với đó, bức tranh tín dụng cũng ghi nhận một số điểm sáng đáng chú ý. Theo Hiệp hội Cho thuê tài chính, dư nợ cho thuê đối với ô tô các loại đạt trên 8.500 tỷ đồng, tăng trưởng 26,44% cùng kỳ.

Dư nợ cho thuê đối với tàu thuyền (trừ tàu biển) tăng gần gấp đôi, khoảng 79,44%, chủ yếu nhờ tác động tích cực từ việc mở rộng danh mục tài sản cho thuê theo quy định tại Thông tư 26/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 quy định về hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính tổng hợp, công ty cho thuê tài chính (Thông tư 26).

Cùng với đó, dư nợ cho thuê máy móc, thiết bị y tế cũng ghi nhận mức tăng trưởng gần 50% so với cùng kỳ năm trước. Đặc biệt, dư nợ cho vay vốn lưu động, vốn trước đây bị giới hạn chủ yếu ở phần bổ sung cho tài sản cho thuê tài chính, cũng ghi nhận sự bứt phá khi đạt mức tăng trưởng hơn 40%, từ mức 16,5 tỷ đồng trong quý I/2024 tăng lên 23 tỷ đồng trong quý I/2025.

"Số lượng khách hàng mới tăng gần 6%, số lượng hợp đồng cho thuê mới tăng trưởng 13% so với quý I/2024" - ông Hòe điểm lại.

Ngoài ra, chất lượng tín dụng được duy trì ở mức an toàn khi tỷ lệ nợ xấu của các công ty cho thuê tài chính đều được kiểm soát dưới ngưỡng 3%.

4 kiến nghị trọng tâm phát triển cho thuê tài chính

Để tiếp tục phát triển hiệu quả hoạt động cấp tín dụng trong thời gian tới, Hiệp hội Cho thuê tài chính kiến nghị tập trung triển khai đồng bộ bốn nhóm giải pháp trọng tâm.

Tăng trưởng chững lại, ngành cho thuê tài chính tìm
Tăng trưởng chững lại, ngành cho thuê tài chính tìm "chân trời mới" nhờ chính sách mở lối. Ảnh: T.L.

Thứ nhất, gia tăng dư nợ ở mức cao nhất có thể hằng năm để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp và người dân, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá trình đổi mới công nghệ sản xuất và chuyển đổi số.

"Các công ty cho thuê tài chính sẵn sàng nhận ủy thác từ Chính phủ, các quỹ đầu tư, tổ chức cá nhân có mong muốn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc đổi mới công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực như chip điện tử, dây chuyền sản xuất hiện đại, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn của các tập đoàn lớn trong và ngoài nước để tham gia chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu" - lãnh đạo Hiệp hội Cho thuê tài chính nêu rõ.

Đơn cử, Chính phủ muốn phát triển trong lĩnh vực sản xuất chip bán dẫn, nhưng các doanh nghiệp của Việt Nam lại không có đủ tài sản thế chấp, nên khó vay vốn ngân hàng để đầu tư công nghệ hiện đại.

Khi đó, Chính phủ không trực tiếp cho vay, mà có thể ủy thác qua các công ty cho thuê tài chính cho thuê dây chuyền, máy móc, thiết bị mới nhất theo chỉ định công nghệ nào, của quốc gia nào. Đây là lợi thế lớn của các công ty cho thuê tài chính, nhờ khả năng cấp tín dụng mà không yêu cầu tài sản thế chấp và kinh nghiệm chuyên sâu trong thẩm định các dự án trung và dài hạn.

"Công ty cho thuê tài chính sẽ là người thẩm định cho thuê tài chính và chịu rủi ro, còn hưởng phí từ Chính phủ ủy thác" - ông Hòe nêu rõ.

Thứ hai, đẩy mạnh cấp tín dụng trung và dài hạn theo định hướng tín dụng xanh, tích hợp với bộ tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG) nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững. Tín dụng xanh của các công ty cho thuê tài chính cần được thực hiện theo hai nghĩa: thẩm định rủi ro môi trường và xã hội đối với 100% các khoản tín dụng; hoặc tài sản, dây chuyền, máy móc thiết bị được tài trợ phải là công nghệ xanh, giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời, các công ty cần tư vấn và hỗ trợ khách hàng tích hợp ESG nếu có nhu cầu, hướng tới phát triển bền vững.

Thứ ba, đa dạng hóa nguồn vốn huy động trung và dài hạn từ các đối tác quốc tế, tổ chức kinh tế trong nước, các ngân hàng thương mại, phát hành trái phiếu doanh nghiệp và trái phiếu xanh. Song song đó, cần xây dựng và triển khai kế hoạch tăng vốn tự có thường niên, nhằm mở rộng hạn mức cấp tín dụng đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng và các bên liên quan.

Thứ tư, Hiệp hội các công ty cho thuê tài chính cần đóng vai trò là đầu mối tập hợp nguồn lực trí tuệ từ các hội viên và các tổ chức quốc tế để cùng đóng góp xây dựng Dự thảo Luật Cho thuê tài chính trong thời gian tới. Đồng thời, cần tham gia góp ý phản biện trong quá trình xây dựng, chỉnh sửa và hoàn thiện khung pháp lý, nhằm tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho cộng đồng doanh nghiệp nói chung và các tổ chức tín dụng không nhận tiền gửi nói riêng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17966 18241 18820
CAD 18122 18397 19017
CHF 31081 31459 32106
CNY 0 3825 3922
EUR 29314 29534 30615
GBP 34177 34568 35505
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14647 15235
SGD 19864 20145 20716
THB 695 759 812
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,230
USD20 25,678 25,828 26,230
USD1 25,658 25,828 26,230
AUD 18,213 18,313 19,419
EUR 29,320 29,420 31,078
CAD 18,289 18,389 19,696
SGD 20,129 20,279 20,835
JPY 164.9 166.4 171.95
GBP 34,414 34,564 35,627
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/09/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30