Thị trường tiền tệ tuần 8 – 12/4:

Tỷ giá vẫn tăng, thị trường tiếp tục sục sôi với giá vàng

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận diễn biến tiếp tục tăng của tỷ giá trong khi thị trường vàng cả trong và ngoài nước cũng ghi nhận bầu không khí sôi động, đặc biệt thị trường trong nước chứng kiến giai đoạn bùng nổ của vàng nhẫn.
aa

Giao trách nhiệm soạn thảo Luật Các tổ chức tín dụng

Trong tuần qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 299/QĐ-TTg phân giao cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản hướng dẫn chi tiết Luật Các TCTD (TCTD) và Luật Đất đai

Theo yêu cầu của Thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo văn bản quy định chi tiết có trách nhiệm trực tiếp phụ trách, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về chất lượng, tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết.

Trong phần liên quan trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), cơ quan này được giao chủ trì soạn thảo 2 nghị định và một số thông tư hướng dẫn.

Một trong 2 nghị định là Nghị định quy định cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (khoản 2 Điều 106). Cụ thể theo quy định của Luật Các TCTD, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng là môi trường thử nghiệm việc ứng dụng công nghệ và triển khai sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực ngân hàng có giới hạn về phạm vi, không gian, thời gian thực hiện. Tổ chức tham gia cơ chế thử nghiệm có kiểm soát phải đáp ứng điều kiện, tiêu chí xét duyệt tham gia và chịu sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tỷ giá vẫn tăng, thị trường tiếp tục sục sôi với giá vàng
Tỷ giá vẫn tăng, thị trường tiếp tục sục sôi với giá vàng. Ảnh: T.L
Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu gần chạm đáy nhưng sau đó tăng trở lại Thị trường liên ngân hàng nóng lên, tỷ giá và giá vàng cùng tăng

Nghị định thứ hai được Thủ tướng giao cho NHNN là Nghị định quy định chi tiết khoản 3 Điều 147 và khoản 2 Điều 159 Luật Các TCTD. Đây là các nội dung liên quan đến biện pháp hỗ trợ tổ chức tín dụng được can thiệp sớm. Trong đó, định hướng cơ bản trong luật cho biết, trong thời gian thực hiện phương án khắc phục, TCTD được can thiệp sớm có lỗ lũy kế lớn hơn 50% giá trị của vốn điều lệ được áp dụng thêm một hoặc một số biện pháp hỗ trợ sau khi được NHNN chấp thuận bằng văn bản.

Tỷ giá vẫn tăng

Tỷ giá trung tâm do NHNN công bố hôm đầu tuần ghi nhận mức 24.038 đồng/USD, bằng với cuối tuần trước. Sau đó, tỷ giá có chiều hướng giảm nhẹ trong các ngày giữa tuần trước khi được điều chỉnh tăng khá nhanh trong 2 ngày cuối tuần. Chốt hôm thứ sáu, tỷ giá trung tâm ở mức 24.082 đồng/USD, tăng 44 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra của Vietcombank hôm đầu tuần là 25.130 đồng/USD, tăng nhẹ 10 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước sau đó duy trì ổn định trong 2 ngày liên tiếp và điều chỉnh tăng thêm 40 đồng trong 2 ngày cuối tuần, chốt phiên thứ sáu ở mức bán ra là 25.170 đồng/USD, tăng 50 đồng mỗi Đô là so với cuối tuần trước.

Phối hợp nhiều bộ, ngành trong kiểm soát thị trường vàng

Trong Thông báo số 160/TB-VPCP, Thủ tướng cũng yêu cầu NHNN, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Thanh tra Chính phủ và các cơ quan chức năng tiếp tục thực hiện nghiêm công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát… theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật như buôn lậu vàng qua biên giới, trục lợi, đầu cơ, thao túng, lợi dụng chính sách găm hàng đẩy giá của các tổ chức, cá nhân liên quan, gây mất ổn định, an toàn thị trường vàng.

Tuần qua, Bộ Lao động Mỹ cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã tăng 0,4% trong tháng 3 và cao hơn 3,5% so với một năm trước. CPI lõi (không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng) đã tăng 3,8% so với cùng kỳ và tăng 0,4% so với tháng 2, cao hơn dự đoán lần lượt là 3,7% và 0,3%.

Các thông tin lạm vẫn còn cao của Mỹ đã tác động trực tiếp đến thị trường tài chính quốc tế, cụ thể kỳ vọng về việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ giảm lãi suất vào tháng 6 đã sụt giảm rõ rệt với xác suất chỉ còn 23%.

Chỉ trước đó vài ngày, trước khi các chỉ số CPI công bố, xác suất FED hạ lãi suất trong tháng 6 vẫn còn ở mức trên 50%.

Thậm chí, khả năng FED hạ lãi suất vào tháng 7 cũng khá thấp chỉ với hơn 41%. Kỳ vọng thị trường đặt cược nhiều hơn vào cuộc họp tháng 9 của FED với xác suất giảm lãi suất có thể xảy ra là khoảng gần 45%.

Các dự đoán về khả năng giảm lãi suất của FED có thể lùi chậm hơn đã làm cho đồng USD tăng giá trên thị trường quốc tế, với chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng Đô la Mỹ đã vượt lên mốc 105 điểm. Chỉ số DXY tăng cho thấy đồng Đô la Mỹ đang có xu hướng tăng giá so với các đồng tiền của các quốc gia khác, bao gồm cả đồng VND của Việt Nam.

Tỷ giá vẫn tăng, thị trường tiếp tục sục sôi với giá vàng
Khả năng FED chậm thực hiện lộ trình hạ lãi suất khiến đồng Đô la tăng giá. Ảnh: T.L

Giá vàng vẫn tiếp tục sôi động

Thị trường vàng vẫn diễn biến rất sôi động trong tuần qua. Trên thế giới, giá vàng vẫn tiếp tục gia tăng sức nóng vàng đến hôm thứ sáu ngày 12/4, kim loại quý này đã tiến sát ngưỡng 2.400 USD/ounce. Tại thị trường trong nước, giá vàng cũng liên tục thiết lập các kỷ lục mới. Giá vàng miếng chiều ngày 12/4 đã tiến tới mốc 84,5 triệu đồng/lượng và giá vàng nhẫn tiến tới mốc 77,15 triệu đồng/lượng.

Đặc biệt, thời gian gần đây thị trường ghi nhận sự thu hút của vàng nhẫn khi loại vàng này liên tục tăng mạnh và tăng nhanh hơn so với vàng miếng. Theo đó, chênh lệch giá vàng miếng và vàng nhẫn chỉ còn khoảng hơn 7 triệu đồng/lượng, thấp hơn khá nhiều so với mức chênh lệch có nhiều lúc lên tới 14 – 15 triệu đồng mỗi lượng trong giai đoạn năm 2023 và đầu năm 2024.

Thủ tướng tiếp tục chỉ đạo ổn định thị trường vàng

Trong tuần qua, Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo số 160/TB-VPCP kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp về các giải pháp quản lý thị trường vàng trong thời gian tới.

Thủ tướng yêu cầu, xử lý tình trạng giá vàng miếng trong nước và giá vàng quốc tế chênh lệch ở mức cao, bảo đảm thị trường vàng hoạt động ổn định, lành mạnh, công khai, minh bạch, hiệu quả; khẩn trương thực hiện ngay các biện pháp, công cụ theo quy định pháp luật, nhất là Nghị định 24 để quản lý, điều hành chặt chẽ, hiệu quả, kịp thời nguồn cung cho sản xuất vàng miếng, vàng trang sức mỹ nghệ, phù hợp với diễn biến thị trường…

Về phía NHNN, cơ quan này cho biết, trong thời gian vừa qua, trước diễn biến phức tạp của thị trường vàng thế giới và trong nước, giá vàng trong nước đã biến động mạnh, tăng nhanh, chênh lệch cao với giá quốc tế.

Theo NHNN, để thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Thông báo kết luận số 160/TB-VPCP ngày 11/4/2024, NHNN sẽ triển khai ngay các giải pháp sau: Đối với thị trường vàng miếng, thực hiện tăng cung để xử lý tình trạng chênh lệch cao của giá trong nước so với giá thế giới; đối với thị trường vàng trang sức, mỹ nghệ, tiếp tục tạo điều kiện tối đa nhằm đảm bảo đủ nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu vàng trang sức mỹ nghệ.

Thanh tra liên ngành sẽ vào cuộc để xử lý các vi phạm nếu có

NHNN cho biết sẽ thực hiện ngay công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát thị trường vàng theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; xử lý nghiêm các hành vi buôn lậu vàng qua biên giới, trục lợi, đầu cơ, thao túng giá vàng. NHNN và các bộ, ngành cũng đã thành lập xong đoàn thanh tra và sẽ triển khai ngay trong tháng 4 này.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 23/9: Vàng thế giới tăng, vàng trong nước giảm tới 1,7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở ngưỡng 4.358 USD/ounce, tăng 12 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn vừa ghi nhận mức giảm tới 1,7 triệu đồng/lượng.
Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 ▼1100K 144,400 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,140 ▼110K 14,440 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 ▼110K 14,490 ▼110K
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 ▼110K 14,400 ▼110K
Trang sức 99.99 13,810 ▼110K 14,410 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 ▼11K 14,442 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 ▼11K 14,443 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 ▲1267K 1,439 ▲1294K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 ▲1267K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 ▼11K 1,429 ▲1285K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 ▼1089K 141,485 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 ▼825K 107,336 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 ▲78704K 97,332 ▲87524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 ▼671K 87,328 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 ▲66238K 83,469 ▲75058K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 ▼459K 59,745 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 ▼11K 1,444 ▼11K
Cập nhật: 24/09/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17756 18030 18612
CAD 17904 18179 18796
CHF 30918 31295 31942
CNY 0 3830 3926
EUR 28977 29196 30273
GBP 33625 34013 34960
HKD 0 3184 3386
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14455 15041
SGD 19780 20062 20630
THB 694 757 810
USD (1,2) 25735 0 0
USD (5,10,20) 25774 0 0
USD (50,100) 25802 25816 26183
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,019 29,042 30,417
JPY 160.22 160.51 170.2
GBP 33,799 33,891 35,066
AUD 17,962 18,027 18,711
CAD 18,094 18,152 18,822
CHF 31,141 31,238 32,162
SGD 19,897 19,959 20,740
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,249 3,259 3,396
KRW 17.49 18.24 19.86
THB 741.79 750.95 804.3
NZD 14,449 14,583 15,018
SEK - 2,576 2,668
DKK - 3,892 4,029
NOK - 2,691 2,789
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,944.07 - 6,710.77
TWD 738.26 - 894.42
SAR - 6,807.72 7,170.98
KWD - 82,294 87,568
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,042 29,159 30,368
GBP 33,798 33,934 34,953
HKD 3,249 3,262 3,379
CHF 30,994 31,118 32,057
JPY 160.62 161.27 169.23
AUD 17,952 18,024 18,616
SGD 19,963 20,043 20,633
THB 758 761 799
CAD 18,106 18,179 18,769
NZD 14,522 15,063
KRW 18.15 20.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 17929 18029 18952
CAD 18077 18177 19191
CHF 31112 31142 32742
CNY 3811.5 3836.5 3971.5
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29133 29163 30888
GBP 33912 33962 35715
HKD 0 3315 0
JPY 161.13 161.63 172.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14539 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 722.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,705 25,825 26,500
USD20 25,675 25,825 26,500
USD1 25,655 25,825 26,500
AUD 17,969 18,069 19,175
EUR 28,922 29,022 30,682
CAD 18,026 18,126 19,434
SGD 20,002 20,152 20,710
JPY 161.41 162.91 168.48
GBP 33,802 33,952 35,295
XAU 14,188,000 0 14,492,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 758 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/09/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30