Thị trường tiền tệ tuần từ 1 - 5/4:

Thị trường liên ngân hàng nóng lên, tỷ giá và giá vàng cùng tăng

Chí Tín
(TBTCO) - Tâm điểm thị trường tiền tệ là diễn biến nóng lên bất ngờ trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất tiến sát trần, còn thị trường mở lại trở nên thưa thớt, dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vẫn bán tín phiếu, nhưng với khối lượng khá nhỏ giọt. Trong khi đó, tỷ giá và giá vàng cùng leo dốc trong tuần qua.
aa

Lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh

Lãi suất bình quân trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng bất ngờ vào nhịp tăng mạnh trong tuần qua với lãi suất cho vay qua đêm vọt lên tới 4,59%, gần sát với mốc lãi suất tối đa 5% theo quy định của NHNN.

Trong khi đó, hoạt động của NHNN trên thị trường mở cũng đã có những thay đổi dù vẫn duy trì đợt bán tín phiếu kéo dài đến nay được 4 tuần liên tiếp kể từ phiên đầu tiên hôm 11/3. Theo đó, khối lượng tín phiếu bán ra đã giảm mạnh, nếu như những phiên đầu trong đợt bán tín phiếu, NHNN hút về khoảng 15 nghìn tỷ đồng mỗi phiên thì trong tuần thứ tư, khối lượng tín phiếu bán ra chỉ mang tính “tượng trưng” có phiên chỉ khoảng 200 - 300 tỷ đồng.

Thị trường liên ngân hàng nóng lên, tỷ giá và giá vàng cùng tăng
Thị trường liên ngân hàng có diễn biến chuyển trạng thái khá nhanh trong những ngày đầu tháng 4. Ảnh: T.L
Lượng tín phiếu phát hành giảm, tín dụng nhích tăng Vietcombank triển khai chương trình giảm lãi suất cho vay hỗ trợ và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2024

Trong khi đó, một số phiên ghi nhận việc NHNN bơm tiền trở lại hệ thống ngân hàng thương mại qua việc mua vào tín phiếu. Cụ thể, phiên ngày 2/4 ghi nhận NHNN mua vào gần 6 nghìn tỷ đồng tín phiếu và tiếp tục mua tiếp 2,5 nghìn tỷ đồng tín phiếu trong phiên 3/4. Đặc biệt riêng phiên 3/4, thị trường được chứng kiến cả 2 trạng thái vừa mua vừa bán tín phiếu của NHNN trên thị trường mở.

Tại báo cáo phân tích mới công bố, Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, lãi suất đầu vào có khả năng tạo đáy trong quý II/2024 và cải thiện nhẹ trong bối cảnh khả năng kinh tế hồi phục và tín dụng dần cải thiện.

Tỷ giá vượt 25.000 đồng/USD

Tuần qua, tỷ giá trung tâm được NHNN điều chỉnh tăng dần qua mỗi ngày và tỷ giá trung tâm hôm cuối tuần ghi nhận mức 24.038 đồng/USD. Theo đó, tỷ giá trung tâm đã tăng 35 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước.

Trong khi đó, tỷ giá bán ra tại ngân hàng thương mại đã vượt mốc 25.000 đồng/USD. Mở đầu tuần mới, tỷ giá bán ra tại Vietcombank vẫn ở mức 24.970 đồng/USD, bằng với hôm thứ sáu tuần trước. Tuy nhiên, tỷ giá đã nhanh chóng leo lên mốc 25.050 đồng/USD vào hôm thứ bá 2/4 và tiếp tục lập đỉnh ở mức 25.130 đồng/USD vào hôm 3.4. Mặc dù vậy, tỷ giá có phần hạ nhiệt vào các ngày cuối tuần và chốt hôm thứ sáu cuối tuần ở mức 25.120 đồng/USD.

Chỉ số DXY có xu hướng giảm trong tuần

Tại thời điểm chiều 5/4, chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng Đô la Mỹ ghi nhận mức 104,25 điểm, có chiều hướng giảm trong tuần vừa qua.

Trong tuần qua khi nói về vấn đề tỷ giá, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc NHNN cho biết, trong quý I/2024, tỷ giá cũng tiếp tục chịu áp lực tăng, trong đó nguyên nhân việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) chưa đưa ra thời gian cụ thể để nới lỏng chính sách tiền tệ, giảm lãi suất nên giá trị đồng USD tăng cao. Việc đồng USD tăng giá đã tác động giảm giá đồng tiền của các nước khác trên thế giới và trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

Ngoài ra, chính sách hạ lãi suất rất mạnh của Việt Nam trong thời gian qua cũng tạo ra sự bất cập về chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và VND trên thị trường liên ngân hàng (tiếp tục duy trì lãi suất âm, tức là lãi suất đồng USD thấp hơn VND). Điều đó cũng tạo áp lực khiến đồng USD tăng. Yếu tố nữa là trong 3 tháng đầu năm, nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu cũng cao hơn.

Tuy nhiên, theo ông Tú với sự điều hành linh hoạt của NHNN, tỷ giá vẫn duy trì được sự ổn định, thị trường ngoại tệ thông suốt, đảm bảo các cân đối chung ngoại tệ, trạng thái ngoại tệ dương cho các ngân hàng thương mại và nền kinh tế cũng như đáp ứng các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp cho nhu cầu xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp.

Thị trường liên ngân hàng nóng lên, tỷ giá và giá vàng cùng tăng
Khoảng cách giá vàng miếng và vàng nhẫn đã thu hẹp hơn. Ảnh: T.L

Giá vàng tăng theo thế giới

Tuần qua tiếp tục ghi nhận diễn biến tăng của giá vàng trong nước trước ảnh hưởng bởi sức nóng gia tăng của giá vàng thế giới.

Đến chiều ngày 5/4, giá vàng miếng SJC 9999 bán ra đạt mức 81,5 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn SJC 9999 bán ra ở mức 71,9 triệu đồng/lượng. Tuy nhiên, một trong những tín hiệu đáng chú ý của thị trường vàng là khoảng chênh lệch giữa vàng nhẫn vàng miếng đã ngày càng thu hẹp và đến nay khoảng cách này chỉ còn dưới 10 triệu đồng/lượng. Chênh lệch này thấp hơn khá nhiều so với một số thời điểm trước đây có lúc lên tới 15 triệu đồng/lượng.

Diễn biến tăng của giá vàng trong nước do ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường quốc tế khi tuần qua cũng là một tuần khá “nóng” của diễn biến giá vàng thế giới. Đỉnh điểm giá vàng thế giới có thời điểm có lúc đã vượt lên trên mốc 2.300 USD/ounce vào ngày 4/4. Đến thời điểm chiều ngày 5/4 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới đã giảm so với mức đỉnh, nhưng vẫn ở mức giá khá cao lên tới 2.288 USD/ounce và vẫn có những diễn biến khó lường.

Trong những ngày gần đây, thông điệp của Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) Jerome Powell cho thấy quan điểm về khả năng mạnh mẽ hơn cho đợt cắt giảm lãi suất đầu tiên sẽ được tiến hành tại cuộc họp chính sách ngày 11 và 12/6 của FED, ngay cả khi dữ liệu kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng và lạm phát chưa về mức mục tiêu dưới 2%.

Công cụ FEDWatch dự báo về hành động của FED đo tại thời điểm chiều ngày 5/4 theo giờ Việt Nam cho thấy xác suất đạt gần 60% cho khả năng FED sẽ giảm lãi suất xuống mức 5 – 5,25% vào cuộc họp tháng 6 trong khi chỉ có hơn 35% khả năng FED vẫn giữ nguyên lãi suất ở mức 5,25 - 5,5% như hiện nay.

Lãi suất tiền gửi ở các ngân hàng tăng giảm trái ngược

Những ngày qua diễn biến lãi suất tiền gửi tại các ngân hàng không giống nhau, một số ngân hàng điều chỉnh giảm lãi suất huy động, trong khi một số ngân hàng khác làm việc ngược lại.

Các ngân hàng giảm lãi suất có thể kể đến như Vietcombank, Eximbank, Techcombank… Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 - 2 tháng tại Vietcombank chỉ còn 1,6%. Trong khi đó, MSB lại điều chỉnh tăng lãi suất ở nhiều kỳ hạn và hiện tại lãi suất tiền gửi kỳ hạn 1 - 2 tháng tại ngân hàng này lên tới 3%/năm và thậm chí người gửi có thể hưởng mức 3,5%/năm nếu gửi trực tuyến.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▼1100K 145,500 ▼1100K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▼1100K 145,500 ▼1100K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▼1100K 145,500 ▼1100K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▼1100K 145,500 ▼1100K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▼1100K 145,500 ▼1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▼1100K 145,500 ▼1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼110K 14,550 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼110K 14,550 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼110K 14,550 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼110K 14,550 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼110K 14,550 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼110K 14,550 ▼110K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼110K 14,460 ▼110K
Trang sức 99.99 13,870 ▼110K 14,470 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,425 ▼11K 14,552 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,425 ▼11K 14,553 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 142 ▼1289K 145 ▼1316K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 142 ▼1289K 1,451 ▼11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,395 ▼11K 144 ▼1307K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,574 ▼1089K 142,574 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,361 ▼825K 108,161 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,828 ▼80200K 9,808 ▼89020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,199 ▲70312K 87,999 ▲79132K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,431 ▼67521K 8,411 ▼76341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,404 ▼459K 60,204 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,425 ▼11K 1,455 ▼11K
Cập nhật: 22/09/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17979 18253 18826
CAD 18013 18288 18903
CHF 31042 31420 32057
CNY 0 3841 3936
EUR 29187 29406 30481
GBP 33975 34365 35296
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14624 15211
SGD 19842 20124 20700
THB 697 760 813
USD (1,2) 25753 0 0
USD (5,10,20) 25792 0 0
USD (50,100) 25820 25834 26199
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26190
AUD 18163 18263 19188
CAD 18192 18292 19306
CHF 31264 31294 32876
CNY 3823.5 3848.5 3984
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29368 29398 31123
GBP 34283 34333 36091
HKD 0 3305 0
JPY 161.51 162.01 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14723 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20007 20137 20859
THB 0 726.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,723 25,843 26,210
USD20 25,693 25,843 26,210
USD1 25,673 25,843 26,210
AUD 18,211 18,311 19,418
EUR 29,166 29,266 30,925
CAD 18,140 18,240 19,547
SGD 20,088 20,238 20,792
JPY 162.03 163.53 169.08
GBP 34,182 34,332 35,394
XAU 14,308,000 0 14,612,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/09/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30