Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm

Ánh Tuyết
Hiệp hội Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng, nhiều quy định về phòng, chống rửa tiền và quản lý nguồn vàng trong dân gây khó cho doanh nghiệp kinh doanh vàng. Do yêu cầu xác minh thu nhập, nghề nghiệp thiếu khả thi, gần như 100% doanh nghiệp có thể phát sinh vi phạm. Hiệp hội đề xuất chuyển sang quản lý dựa trên rủi ro và xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung.
aa
Vàng bạc đá quý Ngọc Hải bị xử phạt vì vi phạm quy định phòng, chống rửa tiền
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế Xem xét cấp phép sản xuất vàng miếng mở đường tăng cung, thêm dư địa cho vàng trang sức

Gần như 100% doanh nghiệp kinh doanh vàng có thể “dính lỗi”

Hiệp Hội Kinh doanh vàng Việt Nam (VGTA) vừa chỉ rõ nhiều quy định hiện hành đã không còn bắt kịp "hơi thở" của thị trường vàng, gây khó khăn trực tiếp cho quá trình vận hành và tuân thủ của các doanh nghiệp, trong đó có rủi ro pháp lý về nguồn vàng trong dân và các quy định về phòng, chống rửa tiền.

Theo Hiệp Hội Kinh doanh vàng, do thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể về việc huy động, thu mua nguồn vàng sẵn có trong dân để làm nguyên liệu sản xuất, các doanh nghiệp luôn đối mặt với rủi ro khi thực hiện giao dịch.

"Việc xác minh nguồn gốc tài sản của cá nhân bán vàng là một thách thức cực lớn khi thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ, dẫn đến các sai sót ngoài ý muốn trong công tác phòng chống rửa tiền, mà nhiều doanh nghiệp ngành vàng đang gặp phải" -Hiệp Hội Kinh doanh vàng nêu rõ.

Bất cập lớn nhất là sự không đồng bộ giữa yêu cầu pháp luật và điều kiện thực tế: luật yêu cầu thu thập, đối chiếu nghề nghiệp, thu nhập, nhưng thiếu cơ chế và hướng dẫn cụ thể, khiến doanh nghiệp kinh doanh vàng khó tuân thủ đầy đủ dù đã có quy định từ lâu.

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo một doanh nghiệp kinh doanh vàng bạc, đá quý uy tín và có quy mô lớn giãi bày, nếu áp dụng đầy đủ quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền vào hoạt động kinh doanh vàng ở thời điểm hiện nay thì gần như 100% doanh nghiệp, từ lớn đến nhỏ, đều có thể phát sinh vi phạm, dù mức độ nặng hay nhẹ, nhiều hay ít. Nguyên nhân là do tồn tại nhiều vướng mắc cụ thể trong quá trình thực thi.

Quy định phòng, chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm
Quy định chống rửa tiền “vênh” thực tế, hầu hết doanh nghiệp kinh doanh vàng đối mặt rủi ro vi phạm. Ảnh minh họa.

Lãnh đạo doanh nghiệp này chỉ rõ, quy định yêu cầu phải nhận biết và phân loại khách hàng, bao gồm việc thu thập thông tin như: độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập..., sau đó đánh giá xem mức thu nhập đó có tương xứng với giá trị giao dịch mua vàng hay không.

Đối với các giao dịch có giá trị lớn, từ 400 triệu đồng trở lên, mức này tương đương khoảng 03 cây vàng, doanh nghiệp phải thực hiện báo cáo với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Tuy nhiên, trên thực tế, vị này cho biết, có nhiều trường hợp khách hàng sử dụng nguồn tiền từ thừa kế, được gia đình cho tặng hoặc có thu nhập ở khu vực nông thôn, ở mức bình thường nhưng vẫn thực hiện các giao dịch này.

Khi đó, việc đánh giá thu nhập có “tương xứng” hay không trở nên rất khó xác định. Chính những bất cập như vậy khiến khi cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, hầu như doanh nghiệp nào cũng có thể bị xác định là có vi phạm.

Đề xuất chuyển sang quản lý rủi ro, thay vì yêu cầu xác minh thu nhập

Để khắc phục, Hiệp Hội Kinh doanh vàng cần ban hành hướng dẫn rõ về phạm vi thông tin được thu thập và tiêu chí tối thiểu đánh giá giao dịch, chuyển sang cách tiếp cận dựa trên rủi ro như: tần suất, lịch sử, dấu hiệu bất thường, thay vì yêu cầu xác minh thu nhập - nghề nghiệp.

Đồng thời, Hiệp Hội Kinh doanh vàng cũng đề nghị phát triển hệ thống dữ liệu dùng chung như định danh khách hàng điện tử (eKYC) kết nối cơ sở dữ liệu dân cư), để hỗ trợ xác minh danh tính chính xác, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp.

Gần đây, hàng loạt doanh nghiệp bị Thanh tra Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ nhiều tồn tại, vi phạm trong lĩnh vực phòng, chống rửa tiền. Đơn cử, Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành (Huy Thanh Jewelry) bị phát hiện gửi báo cáo giao dịch có giá trị lớn không đúng thời hạn; việc gửi quy định nội bộ cũng như thông báo thay đổi thông tin người đầu mối phụ trách công tác phòng, chống rửa tiền tới Cục Phòng, chống rửa tiền đều không đảm bảo thời gian theo quy định.

Trên cơ sở các sai phạm này, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Huy Thanh Jewelry trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Các hành vi bị xử phạt bao gồm: Không báo cáo đúng thời hạn theo quy định về phòng, chống rửa tiền và gửi số liệu báo cáo không chính xác từ hai lần trở lên trong một năm tài chính.

Tại Công ty Vàng bạc đá quý Ngọc Thẩm, cơ quan chức năng xác định doanh nghiệp ban hành quy định nội bộ về phòng chống rửa tiền không đầy đủ, không thu thập đầy đủ thông tin khách hàng, không phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro, và không báo cáo 1.662 giao dịch có giá trị lớn theo quy định. Ngoài ra, công ty cũng chưa thực hiện đánh giá rủi ro về rửa tiền, chưa lưu trữ hồ sơ nhận biết khách hàng, và chưa lưu trữ kết quả phân tích giao dịch phải báo cáo.

Với các sai phạm này, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đã ra quyết định xử phạt hơn 1 tỷ đồng đối với Ngọc Thẩm, gồm 4 hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng chống rửa tiền.

Công ty Vàng bạc đá quý Ngọc Hải cũng bị phát hiện hàng loạt vi phạm tương tự. Doanh nghiệp ban hành quy định nội bộ không đầy đủ, không phân loại khách hàng theo rủi ro, không xây dựng hệ thống quản lý để nhận diện khách hàng nước ngoài có ảnh hưởng chính trị, không báo cáo 32 giao dịch giá trị lớn và không đánh giá rủi ro rửa tiền.

Ngoài ra, Ngọc Hải chưa thực hiện lưu trữ hồ sơ, tài liệu nhận biết khách hàng và kết quả đánh giá các giao dịch phải báo cáo. Thanh tra Ngân hàng Nhà nước xác định nguyên nhân vi phạm chủ yếu do doanh nghiệp chưa nắm rõ và chưa thực hiện đầy đủ quy định pháp luật về phòng chống rửa tiền. Cơ quan chức năng đã ra quyết định xử phạt hành chính 775 triệu đồng đối với Ngọc Hải./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 18/05/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/05/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80