Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bảo hiểm DBV hướng tới Top 4 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, với kế hoạch doanh thu bảo hiểm gốc chiếm 6.200 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 44 tỷ đồng; đồng thời, tái cấu trúc danh mục sản phẩm, đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng hệ sinh thái. DBV tiếp tục giữ lại lợi nhuận, để củng cố nền tảng tài chính và phục vụ tăng trưởng dài hạn.
aa
"Thay tên đổi vận”, Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu nhảy vọt 5 bậc trong bảng xếp hạng thị phần Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm VNI: Tái định vị thương hiệu thành DBV, hướng đến top 7 thị phần Bảo hiểm DBV bứt phá doanh thu phí 90% quý IV/2025, hướng mốc 6.500 tỷ đồng năm 2026 Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Ngày 24/4, tại Hà Nội, Công ty cổ phần Tập đoàn Bảo hiểm DBV (DBV - mã Ck: AIC) tổ chức Đại hội cổ đông thường niên năm 2026.

Tại thời điểm khai mạc, đại hội đủ điều kiện tiến hành theo quy định, với các cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền đại diện cho 95,2 triệu cổ phần, tương ứng 95,25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đại hội cổ đông Bảo hiểm DBV:
Ban lãnh đạo Bảo hiểm DBV chủ trì Đại hội cổ đông thường niên.

Đại hội thông qua nhiều nội dung trọng yếu liên quan đến kết quả hoạt động năm 2025 và định hướng phát triển năm 2026. Theo đó, năm 2026, DBV đặt mục tiêu bước vào giai đoạn phát triển mới với định hướng “tăng trưởng - hiệu quả”, hướng tới lọt vào Top 4 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.

Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4
Nguồn: Bảo hiểm DBV.
Năm 2026, DBV đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu phí bảo hiểm dự kiến đạt 6.273 tỷ đồng. Trong đó, doanh thu bảo hiểm gốc chiếm 6.200 tỷ đồng và doanh thu nhận tái bảo hiểm đạt 73 tỷ đồng. Doanh thu hoạt động tài chính được kỳ vọng đạt 202 tỷ đồng. Mục tiêu lợi nhuận sau thuế đạt 44 tỷ đồng.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Hội đồng quản trị DBV đề ra 5 nhóm giải pháp chiến lược trọng tâm.

Đó là tái cấu trúc danh mục sản phẩm theo hướng nâng cao hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ rủi ro và chi phí; tinh gọn hệ thống tổ chức và mạng lưới; đẩy mạnh chuyển đổi số với nền tảng công nghệ lõi hiện đại. Đồng thời, mở rộng hệ sinh thái và đa dạng hóa kênh phân phối.

Với nền tảng tài chính được củng cố, năng lực vận hành từng bước nâng cao thông qua sự hỗ trợ từ cổ đông chiến lược DB Insurance, DBV hướng tới việc gia tăng quy mô, cải thiện chất lượng dịch vụ và từng bước khẳng định vị thế trong nhóm doanh nghiệp dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam.

Năm 2026, Bảo hiểm DBV cũng định hướng tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng giảm phụ thuộc vào xe cơ giới, tăng tỷ trọng bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp và trách nhiệm. Cùng với đó, nâng cao hiệu quả và kiểm soát rủi ro thông qua kiểm soát tỷ lệ bồi thường, tăng cường quản trị chi phí và ngân sách. Tối ưu hệ thống tổ chức và mạng lưới với việc tái cấu trúc các đơn vị kinh doanh, chuẩn hóa quản lý và phân vùng thị trường.

DBV cũng dự kiến đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hệ thống core bảo hiểm, ứng dụng dữ liệu và AI trong kinh doanh và bồi thường. Phát triển hệ sinh thái và kênh phân phối các đối tác chiến lược; phát triển bảo hiểm số, bảo hiểm nhúng.

Đại hội cổ đông DBV: Tăng tốc doanh thu phí bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, đặt mục tiêu bứt phá top 4
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Tại đại hội, cổ đông tập trung trao đổi về hiệu quả vận hành của DBV trong bối cảnh sở hữu mạng lưới 105 chi nhánh - lớn nhất thị trường, cùng với chính sách chi trả cổ tức của công ty.

Trả lời cổ đông về mạng lưới chi nhánh của Công ty, ông Lê Tuấn Dũng - Chủ tịch Hội đồng quản trị Bảo hiểm DBV cho biết, năm 2025 công ty đã thực hiện tái cấu trúc, các đơn vị thành lập mới đã giúp DBV tăng trưởng mạnh. Trong năm 2026, Công ty tiếp tục kế hoạch nâng cao hiệu quả hoạt động của các chi nhánh để nâng cao hoạt động hiệu quả của toàn hệ thống.

Về vấn đề chi trả cổ tức, ông Lê Tuấn Dũng cho biết, với mục tiêu phát triển, Công ty cần nhiều vốn hơn để đáp ứng về các yêu cầu về Luật Kinh doanh bảo hiểm, do đó, việc chia cổ tức hiện tại chưa thực hiện được. Trong giai đoạn tới, trong trường hợp có kế hoạch chia cổ tức, phía công ty sẽ thông báo tới cổ đông sau.

Về chính sách cổ tức, lãnh đạo DBV cho biết việc chưa chia cổ tức trong những năm gần đây nhằm ưu tiên củng cố năng lực tài chính, đáp ứng yêu cầu của ngành và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Khi điều kiện phù hợp và có kế hoạch cụ thể, công ty sẽ sớm thông tin tới cổ đông.

Về phương án phân phối lợi nhuận năm 2025, Bảo hiểm DBV dự kiến tổng lợi nhuận để lại không chia cổ tức là 123,4 tỷ đồng.

Đại diện cổ đông lớn DB Insurance, ông Kim Kang Wook nhấn mạnh, trong bối cảnh thị trường nhiều biến động và khó khăn, đặc biệt là sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty bảo hiểm, DB Insurance đã và đang xây dựng các chiến lược, mục tiêu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tối ưu chi phí vận hành cho toàn hệ thống. Theo đó, công ty tập trung vào ba định hướng chính, đó là là nâng cao hiệu quả vận hành, tối ưu hóa chi phí và bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho toàn thể cổ đông của DBV./.

Tái định vị thương hiệu, thăng hạng top 9 thị trường

Trước đó, năm 2025, Công ty đã thực hiện thành công việc chuyển đổi nhận diện thương hiệu mới DBV từ tháng 5/2025, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong chiến lược phát triển dài hạn, không chỉ thay đổi hình ảnh, mà còn gắn với định hướng nâng cao năng lực quản trị, chuẩn hóa hoạt động theo thông lệ quốc tế và tăng cường trải nghiệm khách hàng.

Tại ĐHĐCĐ, Bảo hiểm DBV công bố kết quả kinh doanh năm 2025 với nhiều chỉ số tăng trưởng tích cực. Cụ thể, doanh thu phí bảo hiểm đạt 4.261 tỷ đồng, tăng 44,1% so với năm 2024; lợi nhuận sau thuế đạt 32,9 tỷ đồng, tăng 185,3% và vượt 2,8% kế hoạch đề ra. Kết quả này giúp DBV vươn lên vị trí thứ 9 trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, tăng một bậc so với năm trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,270 ▼610K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17911 18185 18764
CAD 18364 18640 19260
CHF 32310 32693 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29785 30007 31088
GBP 34458 34850 35783
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14985 15573
SGD 19899 20181 20757
THB 716 779 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80