Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc thị phần lọt top 4

Ánh Tuyết
Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu năm 2026 đạt doanh thu bảo hiểm gốc 6.200 tỷ đồng, tái cấu trúc danh mục nghiệp vụ theo hướng giảm dần phụ thuộc vào xe cơ giới. Doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh phân phối, hợp tác với các đối tác chiến lược, phát triển bảo hiểm số, hướng tới lọt top 4 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.
aa
Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm VNI: Tái định vị thương hiệu thành DBV, hướng đến top 7 thị phần DBV ra mắt thương hiệu mới, đánh dấu giai đoạn phát triển chiến lược Bảo hiểm DBV bứt phá doanh thu phí 90% quý IV/2025, hướng mốc 6.500 tỷ đồng năm 2026

Phấn đấu doanh thu bảo hiểm gốc vượt 6.000 tỷ đồng, giảm lệ thuộc xe cơ giới

Công ty cổ phần Tập đoàn Bảo hiểm DBV (DBV - mã Ck: AIC) dự kiến tổ chức Đại hội cổ đông thường niên năm 2026 ngày 24/4 tại Hà Nội.

Tại báo cáo kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị năm 2025 và phương hướng nhiệm vụ năm 2026, Chủ tịch Hội đồng quản trị DBV Lê Tuấn Dũng nêu rõ, DBV quyết tâm thực hiện mục tiêu tăng trưởng - hiệu quả, hướng tới lọt top 4 công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu.

Đồng thời, duy trì hoạt động đầu tư theo hướng an toàn, hiệu quả; mở rộng đa kênh phân phối và đa dạng hóa sản phẩm.

DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc vào top 4
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Năm 2026, DBV đặt mục tiêu đạt tổng doanh thu gốc và nhận tái bảo hiểm 6.273 tỷ đồng, trong đó, doanh thu bảo hiểm gốc 6.200 tỷ đồng và doanh thu nhận tái 73 tỷ đồng. Doanh thu hoạt động tài chính đạt 202 tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế đạt 55 tỷ đồng.

Để đạt được các mục tiêu này, Hội đồng quản trị DBV chỉ đạo và giám sát ban điều hành triển khai các nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó, nhấn mạnh định hướng tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng giảm phụ thuộc vào xe cơ giới, tăng tỷ trọng bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp và trách nhiệm.

Cùng với đó, nâng cao hiệu quả và kiểm soát rủi ro thông qua kiểm soát tỷ lệ bồi thường, tăng cường quản trị chi phí và ngân sách. Tối ưu hệ thống tổ chức và mạng lưới với việc tái cấu trúc các đơn vị kinh doanh, chuẩn hóa quản lý và phân vùng thị trường.

DBV cũng dự kiến đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hệ thống core bảo hiểm, ứng dụng dữ liệu và AI trong kinh doanh và bồi thường. Phát triển hệ sinh thái và kênh phân phối các đối tác chiến lược; phát triển bảo hiểm số, bảo hiểm nhúng.

Về phương án phân phối lợi nhuận năm 2025, Bảo hiểm DBV dự kiến tổng lợi nhuận để lại không chia cổ tức là 123,4 tỷ đồng.

Tái định vị thương hiệu, thăng hạng lên top 9 thị trường

Trước đó, năm 2025, Công ty đã thực hiện thành công việc chuyển đổi nhận diện thương hiệu mới DBV từ tháng 5/2025, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng trong chiến lược phát triển dài hạn, không chỉ thay đổi hình ảnh, mà còn gắn với định hướng nâng cao năng lực quản trị, chuẩn hóa hoạt động theo thông lệ quốc tế và tăng cường trải nghiệm khách hàng.

Bên cạnh chuyển đổi mô hình vận hành, DBV còn mở rộng mạng lưới với việc thành lập mới 47 đơn vị, nâng tổng số lên 105 đơn vị, đồng thời tái cấu trúc hệ thống vận hành để nâng cao khả năng tiếp cận khách hàng. Công ty cũng phát triển kênh và hệ sinh thái khi triển khai kênh VnPost, đóng góp 142 tỷ đồng doanh thu, đa dạng hóa kênh phân phối và giảm phụ thuộc vào kênh truyền thống; đẩy mạnh chuyển đổi số và quản trị dữ liệu.

DBV đặt mục tiêu 6.200 tỷ đồng doanh thu gốc, bứt tốc vào top 4
Nguồn: DBV.

Trong hoạt động kinh doanh, Bảo hiểm DBV cũng đạt nhiều kết quả nổi bật. Điển hình là, tổng doanh thu phí bảo hiểm đạt 4.261 tỷ đồng, cao nhất trong lịch sử hoạt động và tăng 44,1% so với năm 2024. Nhờ đó, DBV tăng 1 bậc thị phần, từ vị trí thứ 10 lên thứ 9 toàn thị trường.

Vững vị trí số 1 bảo hiểm xe cơ giới

Thông tin từ DBV cho thấy, nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới vẫn là mảng chính đóng góp vào tổng doanh thu, chiếm tỷ trọng 62,8%; đồng thời, DBV tiếp tục duy trì vị trí số 1 thị trường với quy mô phí gấp 1,3 lần doanh nghiệp xếp thứ hai (Bảo Việt). Nghiệp vụ bảo hiểm tài sản kỹ thuật cải thiện thứ hạng, tăng 3 bậc so với năm 2024.

Cùng với đó, doanh thu tài chính đạt 171,3 tỷ đồng, tăng 14%. Lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 40,9 tỷ đồng, hoàn thành 102,2% kế hoạch; tăng 164%.

Báo cáo tài chính DBV cũng cho thấy, danh mục đầu tư chứng kiến sự dịch chuyển rõ nét năm 2025.

Cụ thể, đầu tư nắm giữ ngắn hạn đạt 1.883,3 tỷ đồng, giảm 25,8% so với năm 2024, chủ yếu vẫn là tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi.

Ngược lại, đầu tư nắm giữ dài hạn tăng mạnh lên 1.199,5 tỷ đồng, tăng mạnh gấp 7 lần năm 2024 (170 tỷ đồng). Trong đó tiền gửi và chứng chỉ tiền gửi đạt 980 tỷ đồng, tăng 476,5%. Đồng thời, phát sinh thêm khoản đầu tư trái phiếu 219,5 tỷ đồng, thực hiện theo Hợp đồng Quản lý danh mục đầu tư qua Công ty TNHH Quản lý quỹ SSI (SSIAM).

Diễn biến này cho thấy DBV đang có xu hướng kéo dài kỳ hạn đầu tư và đa dạng hóa danh mục, vừa duy trì kênh an toàn như tiền gửi, vừa từng bước mở rộng sang trái phiếu doanh nghiệp nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.

Bên cạnh kết quả đạt được, lãnh đạo DBV cũng thẳng thắn thừa nhận, việc sát nhập địa giới hành chính tại Việt Nam diễn ra vào cuối tháng 6/2025 dẫn tới các thủ tục hành chính kéo dài làm chậm tiến độ thành lập các các đơn vị mới tới tháng 10/2025 mới thực hiện xong, thay vì tháng 7/2025 như kế hoạch. Điều này dẫn đến doanh thu các đơn vị mới 2025 còn chậm, đạt 763 tỷ đồng, thấp hơn 400 tỷ đồng so với kế hoạch để ra.

"Cơ cấu doanh thu còn phụ thuộc khá nhiều vào bán lẻ với sản phẩm chủ đạo là xe cơ giới, chưa thực sự đa dạng kênh và sản phẩm. Trong năm 2026, DBV sẽ tiếp tục tập trung nguồn lực để phát triển thêm nhiều các kênh, đổi tác, đa dạng hóa sản phâm, hướng tới phát triển bền vững và hiệu quả" - lãnh đạo DBV nhấn mạnh.

Cùng với đó, DBV tiếp tục ban hành các chính sách thúc đẩy nhóm xe hiệu quả; kiểm soát khai thác và bồi thường đối với nhóm xe không hiệu quả, đặc biệt với dòng xe chở người không kinh doanh dưới 400 triệu đồng thông qua điều chỉnh phí và cơ chế khai thác.

Thiết lập quy trình và KPIs (hệ thống chỉ tiêu đánh giá) cho từng khâu đến khi thanh toán bồi thường cho khách hàng. Thu xếp chương trình tái bảo hiểm nhằm phòng ngừa rủi ro thảm họa, thiên tai đối với bảo hiểm xe cơ giới.

Đồng thời, tận dụng hệ sinh thái đối tác, chuyển dịch từ phương thức khai thác khách hàng truyền thống sang mô hình bảo hiểm nhúng (Embedded Insurance), tích hợp sâu các giải pháp bảo hiểm vào hành trình trải nghiệm của người dùng trên các nền tảng thương mại điện tử và hệ sinh thái bán lẻ quy mô lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,500 ▲300K 141,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 136,500 ▲300K 141,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 136,500 ▲300K 141,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 136,500 ▲300K 141,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 136,500 ▲300K 141,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,500 ▲300K 141,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 27/07/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80