Agribank đóng góp quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế

Văn Tuấn
(TBTCO) - Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về ưu tiên hỗ trợ tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, Agribank tiếp tục nỗ lực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cùng ngành Ngân hàng thúc đẩy các động lực tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế vẫn còn những khó khăn, thách thức.
aa
Agribank đóng góp quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế
Agribank góp phần khai thông dòng vốn đến với doanh nghiệp cả nước. Ảnh tư liệu

Đơn giản hóa thủ tục để hỗ trợ khách hàng

Tiếp nối kết quả đạt được của năm 2023 vượt khó thành công, với mong muốn cùng ngành Ngân hàng thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng của nền kinh tế, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2024, Chủ tịch HĐTV Agribank Phạm Đức Ấn kiến nghị, để hỗ trợ cho tăng trưởng, việc thúc đẩy sản xuất, tiêu dùng trong nước là rất quan trọng, trong đó mấu chốt là việc tăng cường chính sách tài khoá, thúc đẩy đầu tư công ngay từ đầu năm.

Agribank đóng góp quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với kiểm soát rủi ro

“Các chi nhánh trong toàn hệ thống làm việc trực tiếp với khách hàng, cùng tìm cách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận vốn, tập trung tín dụng vào các lĩnh vực phù hợp lợi thế địa phương, các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng, đảm bảo tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro, đảm bảo chất lượng tín dụng” - Tổng giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng.

Bên cạnh đó, việc tháo gỡ vướng mắc về pháp lý liên quan đến dự án đầu tư, xây dựng, phòng cháy, chữa cháy, môi trường, từ đó thúc đẩy tăng nhu cầu sử dụng vốn tín dụng cũng là giải pháp quan trọng để hỗ trợ doanh nghiệp (DN) duy trì được hoạt động, từng bước vượt qua khó khăn và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế.

Lãnh đạo Agribank mong muốn Chính phủ sớm xây dựng chính sách hỗ trợ tăng trưởng xanh như: giảm, miễn thuế, chính sách hỗ trợ lãi suất đồng hành cùng các tổ chức tín dụng để khuyến khích, hỗ trợ DN nghiên cứu, cải tiến, chuyển đổi sản xuất đáp ứng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, sản xuất xanh của các nước nhập khẩu đang và sẽ áp dụng. Đây là thách thức mới ngày càng tăng đối với DN Việt Nam.

Là ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước, với sứ mệnh phục vụ "Tam nông", Agribank luôn chủ động, tiên phong, gương mẫu, triển khai kịp thời các giải pháp hỗ trợ người dân, DN tháo gỡ khó khăn về vốn, phục hồi sản xuất kinh doanh theo đúng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

Nhận định năm 2024, tình hình quốc tế vẫn còn diễn biến phức tạp, khó đoán định, kéo theo nhiều hệ luỵ; nhiều nền kinh tế lớn gặp rất nhiều khó khăn trong tăng trưởng cũng như kiểm soát lạm phát, thậm chí đang có những dấu hiệu suy thoái, tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN trong nước.

Trong bối cảnh đó, để gia tăng khả năng tiếp cận vốn, ngay từ đầu năm 2024, Agribank đã chủ động điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, triển khai các chương trình tín dụng quy mô hơn 120.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay thấp hơn từ 2,5-3% so với lãi suất thông thường để khuyến khích, hỗ trợ khách hàng. Agribank tiếp tục nỗ lực triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, cơ cấu lại nợ hỗ trợ khách hàng, nhất là DN; cải tiến, đơn giản hóa thủ tục, quy trình cho vay để nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Đồng thời, chủ động triển khai đồng bộ, linh hoạt nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng có hiệu quả gắn với kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, các DN phục vụ cho các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.

Để hiện thực hóa các mục tiêu, giải pháp, các thành viên HĐTV, thành viên Ban điều hành Agribank trực tiếp tham gia các đoàn công tác liên ngành của Chính phủ do Thống đốc NHNN Việt Nam Nguyễn Thị Hồng làm trưởng đoàn làm việc với các địa phương về tình hình sản xuất kinh doanh, giải ngân vốn đầu tư công, xuất nhập khẩu; các chương trình mục tiêu quốc gia…, để kịp thời nắm bắt, xử lý khó khăn, vướng mắc.

Tổng giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng đã chủ trì Hội nghị bàn các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng ngay từ những tháng đầu năm 2024 với sự tham dự trực tiếp của lãnh đạo các đơn vị tại trụ sở chính và các chi nhánh trong toàn hệ thống. Toàn hệ thống Agribank đã và đang tích cực trong công tác tín dụng, triển khai phù hợp các giải pháp tăng trưởng tín dụng đã ban hành, qua đó làm tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, để hỗ trợ mạnh mẽ hơn nữa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân, DN, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở nắm bắt phản ánh của cơ sở về những khó khăn, vướng mắc, Tổng giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng đề nghị, yêu cầu toàn hệ thống cần quyết liệt hơn nữa, thực hiện nghiêm túc và cụ thể hóa định hướng chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, phấn đấu tiếp tục giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại nợ, đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi hỗ trợ khách hàng.

Triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi

Đồng hành, hỗ trợ khách hàng tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng, nhà ở…, ngay trong đầu năm 2024 Agribank đã chủ động dùng nguồn lực tài chính để giảm lãi suất cho vay, chia sẻ khó khăn cho khách hàng.

Theo đó, Agribank đã triển khai đồng bộ nhiều chương trình tín dụng ưu đãi đến khách hàng DN và khách hàng cá nhân. Cụ thể như: Chương trình tín dụng ưu đãi ngắn hạn đồng hành cùng các Tập đoàn, Tổng công ty thuộc Uỷ ban Quản lý vốn nhà nước với quy mô 20.000 tỷ đồng với mức lãi suất ngắn hạn đặc biệt ưu đãi để triển khai phương án sản xuất kinh doanh, thực hiện dự án đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao dịch thương mại…

Chương trình tín dụng ưu đãi ngắn hạn dành cho khách hàng DN lớn với quy mô 20.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay thông thường đến 2,0%/năm.

Agribank đóng góp quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế

Chương trình tín dụng ưu đãi đối với khách hàng DN nhỏ và vừa (SME) với quy mô 10.000 tỷ đồng vốn vay ưu đãi ngắn hạn với lãi suất thấp hơn so với sàn lãi suất cho vay thông thường đến 1,5%/năm; Chương trình tín dụng ưu đãi tài trợ các dự án đầu tư thuộc 6 ngành trọng điểm và dự án thuộc lĩnh vực xanh với quy mô 15.000 tỷ đồng với lãi suất ưu đãi cố định trong năm đầu tiên chỉ từ 6,0%/năm dành cho các khoản vay trung và dài hạn.

Chương trình cho vay tiêu dùng ưu đãi đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đang hưởng lương từ ngân sách nhà nước có quy mô 15.000 tỷ đồng với lãi suất cho vay thấp hơn từ 0,5-1,5%/năm so với lãi suất cho vay thông thường của Agribank.

Chương trình cho vay tiêu dùng ưu đãi đối với khách hàng cá nhân có quy mô 10.000 tỷ đồng với lãi suất thấp hơn tối đa 2,5%/năm so với sàn lãi suất cho vay của Agribank.

Với định hướng xuyên suốt, cùng với sự nỗ lực, quyết tâm của toàn hệ thống, Agribank mong muốn từ nguồn vốn tín dụng góp phần hỗ trợ người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn, thách thức, cùng ngành Ngân hàng tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào sự phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế đất nước.

Vay tiêu dùng lãi suất thấp tại tất cả các điểm giao dịch của Agribank

Đáp ứng nhu cầu vay tiêu dùng để phục vụ nhu cầu đời sống, ngay từ đầu năm 2024, Agribank dành 10.000 tỷ đồng triển khai chương trình cho vay tiêu dùng ưu đãi đối với khách hàng cá nhân với lãi suất thấp hơn tối đa 2,5%/năm so với sàn lãi suất cho vay của Agribank.

Cụ thể, về đối tượng áp dụng, khách hàng là cá nhân có nhu cầu vay tiêu dùng để phục vụ nhu cầu đời sống, bao gồm: Mua nhà ở, đất ở, xây mới/cải tạo, sửa chữa nhà để ở, mua sắm đồ dùng sinh hoạt thiết yếu (ti vi, máy giặt, tủ lạnh, điều hoà…); phương tiện đi lại (ô tô, xe máy) và các mục đích tiêu dùng khác theo quy định của Agribank.

Lãi suất cho vay, đối với khách hàng cá nhân vay thông thường, lãi suất cho vay thấp hơn tối đa 2,0%/năm so với sàn lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống theo quy định của Agribank.

Đối với khách hàng cá nhân làm việc tại các đơn vị đã ký thỏa thuận hợp tác với Agribank hoặc ký hợp đồng trả lương qua tài khoản tại Agribank; Cán bộ công nhân viên (CBCNV) hưởng lương từ ngân sách nhà nước, CBCNV ngành y tế: lãi suất cho vay thấp hơn tối đa 2,5%/năm so với sàn lãi suất cho vay phục vụ nhu cầu đời sống theo quy định của Agribank.

Thời gian triển khai, áp dụng đối với các khoản giải ngân phát sinh từ ngày 1/2/2024 đến hết ngày 30/6/2024. Chương trình có thể kết thúc sớm hơn hoặc được gia hạn thời gian triển khai tùy thuộc tình hình thực tế, diễn biến của thị trường./.

Văn Tuấn

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

MIC tăng trưởng 33,6% doanh thu phí bảo hiểm gốc, năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) ghi nhận đà tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.517,7 tỷ đồng, tăng 33,6% so với cùng kỳ. Cùng với kết quả kinh doanh, MIC năm thứ hai liên tiếp được AM Best xếp hạng B++ về năng lực tài chính và bbb về tín nhiệm nhà phát hành dài hạn, với triển vọng ổn định.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80