Thị trường tiền tệ tuần đầu sau nghỉ Lễ:

Lãi suất huy động rục rịch tăng, áp lực từ bên ngoài giải tỏa chút ít

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần đầu tiên sau kỳ nghỉ Lễ 30/4 - 1/5 ghi nhận động thái tiếp nối xu hướng tăng lãi suất huy động của một số ngân hàng. Tuy nhiên, diễn biến tài chính quốc tế cho thấy áp lực từ thị trường quốc tế đã có phần giải tỏa chút ít với thái độ ôn hòa hơn từ FED.
aa

Tiếp nối động thái tăng lãi suất huy động

Sau kỳ nghỉ lễ, một số ngân hàng thương mại có động thái tăng lãi suất huy động. Trong đó, ACB chính thức điều chỉnh tăng lãi suất tiết kiệm với mức tăng 0,2% tại các kỳ hạn từ 1 đến 3 tháng. Ngân hàng này cũng quy định rõ các mức tiền gửi sẽ có lãi suất tương ứng, ví dụ như: Đối với mức gửi từ 200 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng, lãi suất được niêm yết với kỳ hạn 1 tháng tăng thêm 0,2 % là 2,6%/năm, 2 tháng tăng lên 2,8%/năm, 3 tháng tăng lên 3 %/năm

Trước đó trong tháng 4, trên thị trường ngân hàng đã có một số ngân hàng tăng lãi suất tiết kiệm, bao gồm: HDBank, MSB, Eximbank, NCB, Bac A Bank, GPBank, OceanBank, BVBank, PVComBank, CBBank, BIDV, TPBank, VPBank, KienLong Bank…

Lãi suất huy động rục rịch tăng, áp lực từ bên ngoài giải tỏa chút ít
Lãi suất huy động tăng, nhưng chỉ là so với nền lãi suất rất thấp đầu năm 2024. Ảnh: T.L
Xây dựng Thông tư về lãi suất đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam Lãi suất huy động có thể chạm đáy, nhưng chưa tăng mạnh ngay

Động thái tăng lãi suất của nhiều ngân hàng đang là tâm điểm đáng chú ý trên thị trường tiền tệ và điều đặc biệt là làn sóng đang lan rộng ra nhiều ngân hàng, chứ không chỉ ở một vài ngân hàng. Mặc dù vậy, mức tăng lãi suất hiện nay chỉ là trên nền lãi suất huy động rất thấp những tháng đầu năm 2024.

Theo đó, mặt bằng lãi suất huy động sau khi đã tăng cũng chỉ ở mức phổ biến khoảng 4% với kỳ hạn 6 tháng và chỉ quanh mốc 5% với kỳ hạn 12 tháng. Mặt bằng này vẫn thấp hơn so với mặt bằng lãi suất huy động giai đoạn quý III/2023, là thời điểm sau khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã thực hiện 4 lần giảm lãi suất điều hành hồi đầu năm 2023.

Theo đó với bối cảnh hiện tại, thị trường nếu không xuất hiện thêm các yếu tố mới có tính chất bất thường thì cũng chưa đủ gây áp lực buộc NHNN phải điều chỉnh tăng lãi suất điều hành. Ông Tim Leelahaphan - chuyên gia kinh tế Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered cho biết, Việt Nam đang nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút đầu tư nước ngoài nhờ môi trường đầu tư thuận lợi. “Với kinh tế đang trên đà hồi phục, chính sách tiền tệ sẽ ít cần hỗ trợ hơn” - ông Tim nhận định.

Thủ tướng chỉ đạo điều hành thị trường tiền tệ

Ngay sau đợt nghỉ lễ 30/4 - 1/5, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 2/5/2024 về triển khai nhiệm vụ điều hành chính sách tiền tệ năm 2024, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Tiếp tục yêu cầu công khai lãi suất cho vay

Chỉ thị của Thủ tướng yêu cầu ngành ngân hàng tiếp tục tiết giảm chi phí, phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay ở mức hợp lý; thực hiện nghiêm túc việc công bố công khai, minh bạch lãi suất cho vay bình quân để doanh nghiệp, người dân thuận lợi trong việc lựa chọn ngân hàng cho vay có lãi suất thấp, phù hợp yêu cầu sử dụng vốn tín dụng.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu NHNN tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát và giám sát chặt chẽ việc cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng, thực hiện ngay công tác thanh tra, kiểm tra đối với thị trường vàng, hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vàng, các cửa hàng, đại lý phân phối và mua bán vàng miếng.

Ngành ngân hàng cũng cần kiện toàn hệ thống thanh tra, kiểm tra bảo đảm thông suốt, gắn kết từ trung ương đến địa phương, hiệu lực, hiệu quả.

Áp lực bên ngoài giải tỏa phần nào

Sau kỳ nghỉ lễ, những thông tin từ thị trường tài chính quốc tế có những diễn biến theo hướng có phần giải tỏa bớt áp lực và ảnh hưởng đối với thị trường tiền tệ trong nước.

Một trong những động thái đáng chú ý là cuộc họp của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) kết thúc đầu tháng 5/2024 cho kết quả việc FED vẫn giữ nguyên lãi suất cơ bản. Đây là kết quả đã được thị trường dự báo từ trước, nhưng một trong những thông điệp giúp thị trường tài chính toàn cầu trở nên “dễ thở” hơn là các phát biểu của FED đã phủ nhận khả năng tăng lãi suất suất.

Sau động thái này, hầu hết các chỉ số chứng khoán trên các thị trường quốc tế đều tăng điểm, còn giá vàng và chỉ số DXY đo lường sức mạnh đồng Đô la Mỹ thì có tín hiệu hạ nhiệt hơn.

Lãi suất huy động rục rịch tăng, áp lực từ bên ngoài giải tỏa chút ít
Giá vàng thế giới điều chỉnh giảm sau cuộc họp của FED. Ảnh: T.L

Tỷ giá và giá vàng nhẫn giảm nhẹ

Tuần qua chỉ có 2 ngày giao dịch và động thái tỷ giá cho thấy có phần hạ nhiệt khi tỷ giá trung tâm được NHNN công bố trong ngày đầu đi làm sau kỳ nghỉ là 24.242 đồng/USD, giảm 4 đồng mỗi Đô la so với ngày cuối cùng trước đợt nghỉ. Tiếp đó, tỷ giá trung tâm tiếp tục được NHNN điều chỉnh giảm nhẹ xuống 24.241 đồng/USD vào ngày thứ sáu cuối tuần.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm 2/5 ghi nhận là 25.454 đồng/USD, giảm 4 đồng so với hôm trước nghỉ lễ và ngân hàng này tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ giá bán ra xuông 25.453 đồng/USD vào hôm cuối tuần.

Giá vàng nhẫn trong nước có xu hướng giảm theo xu hướng của giá thế giới, trong khi vàng miếng SJC lại vẫn neo cao. Tại buổi chiều ngày 3/5, giá vàng miếng SJC 9999 ghi nhận mức mua vào là 83,5 triệu đồng/lượng và bán ra là 85,8 triệu đồng/lượng; giá vàng nhẫn SJC 9999 mua vào là 73,1 triệu đồng/lượng và bán ra là 74,8 triệu đồng/lượng.

Tại thị trường thế giới, giá vàng đã có những nhịp giảm sau phiên họp của FED và nhiều lần rớt xuống dưới ngưỡng 2.300 USD/ounce. Tại thời điểm chiều ngày 3/5 theo giờ Việt Nam, giá vàng ghi nhận mức 2.298 USD/uonce.

Sàn đấu thầu vàng vẫn ế khách

Phiên đấu thầu vàng hôm 3/5 phải hủy thầu do chỉ có một đơn vị nộp phiếu dự thầu. Như vậy kể từ khi tái khởi động đợt đấu thầu vàng miếng SJC, NHNN mới tổ chức thành công 1 phiếu đầu thầu vàng duy nhất hôm 23/4. Với 3.400 lượng vàng được bán ra trong phiên này, tổng khối lượng trúng thầu cũng chỉ đạt khoảng 20% tổng khối lượng vàng đưa ra đấu thầu.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 20/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 20/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30