Ba trụ cột tiếp sức tăng trưởng trong quý cuối năm 2026
Động lực tăng trưởng được củng cố
Bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam trong quý III/2026 ghi nhận nhiều điểm sáng, với đà tăng trưởng tiếp tục được củng cố nhờ sự bứt phá của sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và đầu tư. Theo phân tích mới nhất của S&I Ratings, đây tiếp tục là những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 9 tháng đầu năm.
Dẫn số liệu Cục Thống kê, báo cáo cho biết GDP quý III ước tăng 9,95% so với cùng kỳ, cao hơn mức 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Lũy kế 9 tháng, GDP tăng 9,01%, mức cao nhất trong nhiều năm nếu không tính năm 2022. Công nghiệp - xây dựng đóng góp hơn một nửa mức tăng trưởng chung, trong khi dịch vụ và tiêu dùng nội địa cải thiện chậm hơn.
![]() |
Trong 9 tháng, công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, vượt mức 8,69% của dịch vụ và 4,02% của nông, lâm nghiệp và thủy sản. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,36%; xây dựng tăng 12,22% và sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 10,62%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 16,7% trong tháng 9 và 12,3% tính chung 9 tháng.
Nhiều ngành ghi nhận mức tăng cao trong tháng 9 như khai thác quặng kim loại (58,1%), sản xuất đồ uống (24,7%), sản phẩm điện tử và máy vi tính (23,3%), sản xuất kim loại (21,8%). Ngành khai khoáng tăng 13,4%, sản xuất và phân phối điện tăng 15,5%. Theo S&I Ratings, nhu cầu công nghệ trên thị trường quốc tế và tiến độ triển khai các dự án hạ tầng trong nước đã hỗ trợ sản xuất, xây dựng và năng lượng.
Xuất khẩu cũng tăng tốc trong tháng 9, đạt gần 60 tỷ USD, tăng 39,1% so với cùng kỳ, đưa cán cân thương mại tháng xuất siêu 1,27 tỷ USD. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, xuất khẩu tăng 24,5%, thấp hơn mức tăng 36,7% của nhập khẩu, khiến cán cân thương mại nhập siêu 19,42 tỷ USD. Báo cáo cho rằng một phần nguyên liệu nhập khẩu trước đó đang chuyển thành hàng xuất khẩu, trong khi giá linh kiện điện tử tăng góp phần nâng kim ngạch.
Xuất khẩu máy vi tính tăng 112,7% trong tháng 9, chiếm 38% tổng kim ngạch và đóng góp 72% mức tăng xuất khẩu so với cùng kỳ. Sắt thép tăng 55,7%, hóa chất tăng 68,6%, dây điện tăng 42,1% và phương tiện vận tải tăng 21,9%. Ngược lại, một số mặt hàng nông nghiệp như gạo, rau quả, hạt điều tăng chậm hoặc giảm.
Hoạt động đầu tư tiếp tục duy trì đà tăng. Giải ngân đầu tư công tháng 9 tăng 58% so với tháng trước; lũy kế đạt 642,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 62,9% kế hoạch và tăng 12,9% so với cùng kỳ. Tỷ lệ thực hiện đạt 64,8% nếu loại phần vốn ngân sách địa phương tiết kiệm 5% theo kế hoạch. Vốn FDI thực hiện tăng khoảng 12,1%, còn vốn đăng ký mới và bổ sung tăng 76,4%.
Tăng trưởng cao, nhu cầu vốn lớn
Cùng với đà tăng trưởng, áp lực giá cả gia tăng khi CPI tháng 9 tăng 5,08% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhóm giao thông tăng 11,67% dưới tác động của giá năng lượng. Lạm phát cơ bản ở mức 4,45%, CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52%. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng khoảng 13,4%, nhưng sau khi loại trừ yếu tố giá chỉ tăng 7,8%, thấp hơn nhịp tăng của sản xuất và xuất khẩu.
![]() |
Trên thị trường tiền tệ, thanh khoản hệ thống ngân hàng cải thiện, với lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm xuống dưới 1%. Ngân hàng Nhà nước hút ròng 54 nghìn tỷ đồng qua thị trường mở, đưa quy mô OMO lưu hành về 135 nghìn tỷ đồng. Đến cuối tháng 9, tín dụng tăng 11,59% so với cuối năm 2025 và 16,69% so với cùng kỳ.
Trong khi đó, huy động vốn tăng 9,78% so với cuối năm trước, so với mức 5,6% cuối tháng 6. Riêng quý III, huy động tăng thêm 4,18 điểm phần trăm, cao hơn mức tăng 2,52 điểm phần trăm của tín dụng, giúp thu hẹp chênh lệch giữa hai chỉ tiêu. Tuy nhiên, nhu cầu vốn cho sản xuất và đầu tư vẫn tạo sức ép huy động. Chương trình tín dụng hỗ trợ các động lực tăng trưởng và doanh nghiệp nhỏ và vừa ghi nhận quy mô đăng ký khoảng 409 nghìn tỷ đồng, song giải ngân mới đạt 18,6 nghìn tỷ đồng. Tỷ giá USD/VND tại ngân hàng cuối tháng 9 ở mức 25.750 - 26.170 đồng/USD, giảm 0,8% từ đầu năm.
Ở thị trường quốc tế, S&I Ratings ghi nhận Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm trong tháng 9, lên 3,75 - 4%. Lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đạt 5,3%, trong khi lợi suất trái phiếu chính phủ Việt Nam cùng kỳ hạn quanh 4,45%. Sự chênh lệch này chủ yếu phản ánh khác biệt về thanh khoản, chính sách tiền tệ và cơ cấu nhà đầu tư, đồng thời ảnh hưởng đến sức hút của tài sản bằng VND.
Nhìn về quý IV, S&I Ratings nhận định công nghiệp chế biến, chế tạo, đầu tư công và xuất khẩu tiếp tục là những động lực quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trong cả năm, nền kinh tế cần duy trì mức tăng trên 12,5% trong quý cuối năm.
Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho đầu tư hạ tầng và mở rộng sản xuất tiếp tục gia tăng, báo cáo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển thị trường trái phiếu và đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung, dài hạn, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, đồng thời duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính.




