Thị trường tiền tệ tuần 5 - 9/10: Lãi suất qua đêm xuống dưới 1%, VND thuộc nhóm hiếm hoi tăng giá trước USD

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 5 - 9/10, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 36.597 tỷ đồng qua kênh OMO, đưa dư nợ xuống thấp kể từ tháng 7/2025. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu xuống 0,99%/năm. Trong khi đó, tỷ giá USD tại ngân hàng giảm mạnh, VND hiện thuộc nhóm hiếm hoi tăng giá so với USD.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ Lãi suất tiền gửi tăng 1,15 điểm phần trăm từ đầu năm, giữ cân bằng tỷ giá - lãi suất

Hút ròng hơn 90.000 tỷ đồng trong 2 tuần, dư nợ OMO thấp nhất 15 tháng

Trong tuần từ ngày 5 - 9/10, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng thanh khoản trên thị trường mở (OMO), đưa khối lượng lưu hành xuống dưới 100.000 tỷ đồng, mức thấp nhất kể từ tháng 7/2025. Trong khi đó, lãi suất liên ngân hàng đồng loạt giảm so với cuối tuần trước, đặc biệt ở kỳ hạn qua đêm, cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Thị trường ngoại hối tuần từ ngày 5 - 9/10 ghi nhận diễn biến phân hóa giữa các kênh giao dịch. Ảnh: Đức Thanh

Theo đó, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước chào thầu thành công tổng cộng 10.081,46 tỷ đồng trong tuần, kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 35 ngày và 91 ngày. Đáng chú ý, cơ quan điều hành không chào thầu trong hai phiên ngày 5/10 và 8/10, với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lên tới 46.679,04 tỷ đồng, vượt xa lượng vốn được “bơm” mới.

Tính chung cả tuần (từ ngày 5 - 9/10), Ngân hàng Nhà nước hút ròng 36.597,58 tỷ đồng qua kênh OMO; chỉ trong 2 tuần, lượng hút ròng mạnh vượt 90.000 tỷ đồng. Đến ngày 9/10, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở giảm xuống còn 96.744,35 tỷ đồng, thấp nhất kể từ tháng 7/2025.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND ghi nhận xu hướng giảm ở tất cả các kỳ hạn được khảo sát.

Tính đến ngày 8/10, lãi suất qua đêm giảm xuống 0,99%/năm, thấp hơn 1,74 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Trong cả tuần (5 - 9/10), lãi suất qua đêm dao động hẹp chỉ quanh 1 - 2%/năm.

Lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm 1,2 điểm phần trăm, xuống 2,37%/năm.

Với các kỳ hạn dài hơn, lãi suất hạ nhiệt nhẹ, khi lãi suất kỳ hạn 2 tuần giảm 0,63 điểm phần trăm, xuống 4,05%/năm. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,21 điểm phần trăm, xuống 4,83%/năm và kỳ hạn 3 tháng giảm nhẹ 0,09 điểm phần trăm, còn 6,64%/năm.

Diễn biến đáng chú ý là lãi suất qua đêm giảm mạnh từ 2,05%/năm (ngày 5/10) xuống 1,18%/năm (ngày 6/10) và 0,72%/năm (ngày 7/10), trước khi nhích lên 0,99%/năm vào ngày 8/10. Điều này cho thấy, mặt bằng lãi suất ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể, dù có sự điều chỉnh tăng nhẹ trong phiên gần nhất.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản ngắn hạn có phần biến động trong tuần cuối quý III, đầu quý IV.

Chứng khoán Yuanta nhìn nhận, áp lực yếu tố cuối quý giảm sẽ giúp lãi suất qua đêm ổn định hơn, song khả năng lãi suất quay lại duy trì lâu ở vùng rất thấp là không lớn, bởi giai đoạn cuối năm tới gần, trong khi lạm phát và tỷ giá tiếp tục hạn chế dư địa nới lỏng. CPI bình quân 9 tháng đã tăng 4,52%, trong khi lạm phát cơ bản tăng 4,26%, cho thấy áp lực giá cả đang ngày càng gia tăng.

USD trong nước biến động mạnh trái chiều

Thị trường ngoại hối tuần qua ghi nhận diễn biến phân hóa giữa các kênh giao dịch. Trong khi tỷ giá trung tâm và tỷ giá bán USD tại các ngân hàng thương mại đồng loạt giảm so với cuối tuần trước, tỷ giá USD trên thị trường tự do lại tăng mạnh, nới thêm chênh lệch với thị trường ngân hàng.

Thị trường tiền tệ tuần 5 - 9/10: Lãi suất qua đêm xuống dưới 1%, VND thuộc nhóm hiếm hoi tăng giá trước USD

Cụ thể, ngày 9/10, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.629 đồng/USD, giảm 5 đồng so với phiên trước và giảm tổng cộng 7 đồng so với cuối tuần trước; đồng thời, nối tiếp đà giảm 5 đồng tuần trước đó.

Cùng xu hướng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Tại Vietcombank, tỷ giá mua vào - bán ra lần lượt ở mức 25.660 - 26.070 VND/USD, cùng giảm 100 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước. Tại BIDV, mức giảm mạnh hơn 130 đồng, xuống 25.680 - 26.060 VND/USD.

Ngược chiều với thị trường ngân hàng, tỷ giá USD trên thị trường tự do bật tăng 220 đồng so với cuối tuần trước, lên 26.080 - 26.180 VND/USD, song vẫn ở mức thấp so với giai đoạn trước.

VND thuộc nhóm hiếm hoi tăng giá

Theo ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước), các nền kinh tế lớn đã liên tục tăng lãi suất và thắt chặt chính sách tiền tệ gia tăng áp lực lên đồng nội tệ của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc duy trì tỷ giá ổn định suốt thời gian qua là nỗ lực lớn của Ngân hàng Nhà nước trong công tác điều hành. VND nằm trong nhóm hiếm các đồng tiền tăng giá so với USD, với mức tăng 1,12%.

Chia sẻ tại họp báo Ngân hàng Nhà nước tuần qua, ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động, các nền kinh tế lớn đã liên tục tăng lãi suất và thắt chặt chính sách tiền tệ, điển hình như: Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) với lãi suất lên mức cao nhất 30 năm...

Trong khi đó, chỉ số USD Index (DXY) - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (gồm EUR, JPY, GBP, CAD, SEK và CHF) có thời điểm vượt 102 điểm, tăng hơn 4% so với đầu năm.

Nhiều đồng tiền trong khu vực như yên Nhật, ringgit Malaysia, peso Philippines, rupee Ấn Độ..., kể cả các đồng tiền mạnh như euro, franc Thụy Sĩ và bảng Anh đều mất giá đáng kể so với USD, với mức giảm từ 2 - 7%.

Về thanh khoản hệ thống, ông Phạm Chí Quang khẳng định, Ngân hàng Nhà nước luôn bảo đảm thanh khoản thông suốt cho hệ thống ngân hàng, qua đó hỗ trợ các tổ chức tín dụng trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Dù duy trì xu hướng tăng trong cả tuần, đồng USD đã xuất hiện những nhịp điều chỉnh trong các phiên gần đây. Chỉ số DXY hiện đứng ở mức 102,14 điểm, tăng 0,2% trong tuần qua.

Đồng USD suy yếu trên diện rộng trong phiên giao dịch ngày thứ năm, sau khi phiên đấu giá trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 30 năm ghi nhận nhu cầu tích cực.

Kết quả này cho thấy, nhu cầu đối với trái phiếu dài hạn của Mỹ vẫn khá vững, qua đó góp phần kéo lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn dài đi xuống. Đồng thời, tâm lý chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư được cải thiện, làm giảm nhu cầu nắm giữ USD với vai trò tài sản trú ẩn an toàn, khiến đồng bạc xanh chịu áp lực điều chỉnh trong những phiên gần đây./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

Thêm một ngân hàng gia nhập "câu lạc bộ" vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Sau MB, VPBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có vốn điều lệ từ 100.000 tỷ đồng, sau khi hoàn tất phát hành hơn 2,06 tỷ cổ phiếu để trả cổ tức, nâng vốn thêm hơn 20.660 tỷ đồng. Việc liên tiếp xuất hiện các nhà băng có vốn điều lệ vượt ngưỡng 100.000 tỷ đồng cho thấy "làn sóng" tăng vốn đang diễn ra mạnh mẽ.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 ▲160K 14,310 ▲160K
Trang sức 99.99 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17514 17787 18369
CAD 17643 17917 18540
CHF 30492 30868 31516
CNY 0 3824 3921
EUR 28373 28590 29678
GBP 33421 33809 34748
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14793
SGD 19667 19949 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25680 25680 26080
AUD 17705 17805 18730
CAD 17830 17930 18944
CHF 30737 30767 32345
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28564 28594 30317
GBP 33747 33797 35555
HKD 0 3315 0
JPY 159.95 160.45 170.98
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14318 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19836 19966 20687
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14480000
SBJ 12500000 12500000 14480000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30