Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Lãi suất qua đêm quanh 0% vọt lên gần 7%, giao dịch vượt 1 triệu tỷ đồng

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết linh hoạt thanh khoản trên thị trường mở (OMO). Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, cơ quan điều hành phát hành tổng cộng 25.139,38 tỷ đồng, trong khi lượng đáo hạn lên tới 78.614,58 tỷ đồng.

Đáng chú ý, sau khi hút ròng mạnh 44.793,22 tỷ đồng trong phiên đầu tuần ngày 28/9, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang bơm ròng 10.038 tỷ đồng ngày 30/9, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng mạnh tại thời điểm cuối tháng, doanh số giao dịch liên ngân hàng tăng vọt.

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”
Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”. Ảnh tư liệu.
Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng trong cả tuần, song mặt bằng lãi suất không bị đẩy lên quá cao, cho thấy thanh khoản hệ thống nhìn chung vẫn tương đối ổn định. Dù vậy, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh, từ 0,56% vọt lên gần 7%/năm, phản ánh áp lực thanh khoản tăng cục bộ vào thời điểm cuối tháng, trước khi nhanh chóng hạ nhiệt.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng, đảo chiều so với mức bơm ròng hơn 34.000 tỷ đồng tuần trước.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 133.341,93 tỷ đồng, thấp nhất gần 1 năm từ giữa tháng 10/2025 đến nay.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất biến động mạnh giữa các phiên, bật tăng mạnh phiên cuối tháng.

Theo đó, lãi suất qua đêm từ 0,48% ngày 28/9 bất ngờ vọt lên 6,95% ngày 30/9, cùng thời điểm Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 10.038 tỷ đồng hỗ trợ hệ thống.

So với cuối tuần trước, lãi suất qua đêm ngày 1/10 tăng 3,42 điểm phần trăm lên 4,29%/năm; kỳ hạn 1 tuần tăng 1,68 điểm phần trăm lên 6,41%/năm.

Ngược lại, lãi suất kỳ hạn 2 tuần giảm 0,03 điểm phần trăm xuống 5,44%/năm, kỳ hạn 1 tháng giảm 0,81 điểm phần trăm xuống 5,97%/năm và kỳ hạn 3 tháng giảm 0,29 điểm phần trăm xuống 6,63%/năm.

Đáng chú ý, ngày 30/9, doanh số giao dịch liên ngân hàng bật mạnh vượt 1,1 triệu tỷ đồng, trùng với phiên lãi suất qua đêm lên cao và Ngân hàng Nhà nước chuyển sang bơm ròng hỗ trợ thị trường.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản ngắn hạn của hệ thống vẫn ổn định, dù không còn dư thừa như đầu tháng.

Trong ngắn hạn, lãi suất qua đêm có thể duy trì ở vùng thấp nếu Ngân hàng Nhà nước tiếp tục cung ứng thanh khoản phù hợp, song khó kỳ vọng toàn bộ đường cong lãi suất giảm mạnh.

“Mặt bằng lãi suất huy động vẫn khó giảm, khi nhu cầu vốn cho tăng trưởng tín dụng và đầu tư vẫn lớn, trong khi áp lực lạm phát và tỷ giá gia tăng khi lãi suất USD, lợi suất quốc tế ở mức cao sẽ tiếp tục giới hạn dư địa nới lỏng tiền tệ” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta nhận định.

Tỷ giá trong nước giữ nhịp ổn định, DXY vẫn neo cao

Trong tuần từ 28/9 - 2/10, tỷ giá trung tâm chốt tuần giảm 5 đồng so với cuối tuần trước. Diễn biến này trái chiều với tuần trước, khi tỷ giá trung tâm tăng 4 đồng.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD gần như ổn định, khi Vietcombank giữ nguyên, còn BIDV tăng 10 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước.

Đồng USD suy yếu ngay sau báo cáo việc làm Mỹ. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - giảm khoảng 0,23% xuống quanh 101,8 điểm.

Dù vậy, DXY vẫn duy trì mức tăng 0,93% tuần qua, lên 101,91 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Số liệu từ Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS) cho thấy, nền kinh tế Mỹ chỉ tạo thêm 29.000 việc làm trong tháng 9, thấp xa mức 90.000 việc làm mà thị trường kỳ vọng. Đáng chú ý, số liệu việc làm của hai tháng trước cũng bị điều chỉnh giảm đáng kể, củng cố thêm tín hiệu suy yếu của thị trường lao động Mỹ.

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”
Nguồn: Techcombank.

Dự báo biến động tỷ giá cuối năm, Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính của Techcombank duy quan điểm tỷ giá cuối năm có thể chỉ mất giá nhẹ 0,8% so với thời điểm 31/12/2025 dựa trên nhiều động lực.

Rủi ro đáng chú ý nhất đối với dự báo là khả năng Fed chuyển sang lập trường thắt chặt hơn dự kiến, qua đó đẩy DXY tăng trở lại.

Dù vậy, có nhiều yếu tố hỗ trợ sức mạnh đồng USD. Bộ phận Phân tích kinh tế và thị trường tài chính của Techcombank cho rằng, khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chuyển sang lập trường thắt chặt hơn dự kiến có thể làm gia tăng sức hấp dẫn của đồng USD trên phạm vi toàn cầu và gây bất lợi cho các đồng tiền của thị trường mới nổi, bao gồm VND.

Còn theo Chứng khoán Yuanta, làn sóng bán tháo trên thị trường trái phiếu đã đẩy lợi suất dài hạn của Mỹ lên vùng cao nhất nhiều năm, qua đó tiếp tục hỗ trợ USD.

Cùng với đó, các đồng tiền chủ chốt nhìn chung chịu áp lực trước USD khi chênh lệch kỳ vọng chính sách và mức lợi suất cao của Mỹ vẫn đang tạo lợi thế tương đối cho USD.

Theo đó, đồng euro có thời điểm xuống mức thấp nhất hai tháng và ghi nhận tuần giảm thứ ba liên tiếp, trong khi bảng Anh dao động gần đáy 03 tháng dù Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) phát tín hiệu có thể chuyển sang tăng lãi suất nếu áp lực lạm phát từ năng lượng kéo dài.

Đồng yên Nhật cũng chịu sức ép trong phần lớn tuần, bất chấp Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) đã tăng lãi suất trước đó, trước khi phục hồi vào cuối tuần nhờ những phát biểu liên quan đến khả năng can thiệp tỷ giá.

“Việc Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh tăng nhẹ tỷ giá trung tâm trong khi tỷ giá tại các ngân hàng thương mại giảm cho thấy Ngân hàng Nhà nước đang chủ động duy trì dư địa tỷ giá để ứng phó với những biến động từ thị trường quốc tế” - Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Ngành ngân hàng quyết liệt xử lý nợ xấu, VAMC đặt trọng tâm phát triển thị trường mua bán nợ

Ngành ngân hàng quyết liệt xử lý nợ xấu, VAMC đặt trọng tâm phát triển thị trường mua bán nợ

(TBTCO) - Lãnh đạo VAMC cho biết sẽ chuyển dịch trọng tâm sang phát triển thị trường mua bán nợ thời gian tới, trong đó, dự kiến vận hành sàn giao dịch nợ cuối năm 2027 hoặc đầu năm 2028. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai quyết liệt các phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh.
Vietcombank đồng đầu tư Quán Nhà Haha, đưa dàn nghệ sĩ lên bộ sưu tập thiết kế thẻ độc quyền

Vietcombank đồng đầu tư Quán Nhà Haha, đưa dàn nghệ sĩ lên bộ sưu tập thiết kế thẻ độc quyền

(TBTCO) - Tại họp báo ra mắt Quán Nhà Haha, Vietcombank khẳng định vai trò Nhà đồng đầu tư và giới thiệu bộ sưu tập thẻ ghi nợ quốc tế Vietcombank Visa Haha Collection. Với 17 thiết kế, trong đó có tới 15 thiết kế lấy cảm hứng từ dàn nghệ sĩ và 2 thiết kế từ Quán Nhà Haha, bộ thẻ mở đầu chuỗi hoạt động đưa khách hàng đến gần hơn với chương trình, từ những giao dịch hằng ngày đến các cuộc gặp gỡ và Fan Meeting.
HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

HDBank dẫn đầu nhóm ngân hàng Việt Nam, Á quân hiệu quả hoạt động trong Top 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á

(TBTCO) - HDBank ghi dấu ấn trên bản đồ tài chính khu vực khi đứng thứ 2 về hiệu quả hoạt động trong bảng xếp hạng năm 2025 của S&P Global Market Intelligence dành cho 50 ngân hàng niêm yết lớn nhất Đông Nam Á, đồng thời giữ vị trí cao nhất trong nhóm ngân hàng Việt Nam được đánh giá.
LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

LPBank hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1, nâng tầm trải nghiệm thanh toán số

(TBTCO) - Hoàn thành nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 1 sau 5 tháng triển khai, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) chính thức đưa phiên bản mới vào vận hành từ ngày 4/10/2026, tạo bước tiến về năng lực xử lý, kết nối và an toàn giao dịch. Không chỉ củng cố hạ tầng thanh toán, đây còn là tiền đề để LPBank nâng cấp Core Thẻ giai đoạn 2 với gần 50 tính năng, giải pháp và dịch vụ mới, góp phần nâng tầm trải nghiệm thanh toán số cho khách hàng.
Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

Moody’s nâng xếp hạng ABBank lên B1, duy trì triển vọng tích cực

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody’s Ratings vừa nâng xếp hạng tiền gửi dài hạn và xếp hạng nhà phát hành của Ngân hàng TMCP An Bình (ABBank) từ B2 lên B1, đồng thời duy trì triển vọng Tích cực, ghi nhận những cải thiện về chất lượng tài sản, khả năng sinh lời và năng lực vốn của ngân hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (7/10): Tỷ giá trung tâm đi ngang, chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 7/10, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.645 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY giảm 0,25% xuống 101,85 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) để tìm thêm tín hiệu chính sách.
Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

(TBTCO) - Các “thước đo”, giới hạn và tỷ lệ an toàn mới đặt ngân hàng trước những bài kiểm tra về độ ổn định của nguồn vốn, khả năng thanh khoản khi dòng tiền căng thẳng và sức chống đỡ rủi ro của nền vốn, từng bước tiệm cận chuẩn mực Basel III. Qua đó, “sức khỏe” và khả năng chống chịu sẽ trở thành yếu tố phân hóa rõ hơn giữa các ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 142,500
Hà Nội - PNJ 139,500 142,500
Đà Nẵng - PNJ 139,500 142,500
Miền Tây - PNJ 139,500 142,500
Tây Nguyên - PNJ 139,500 142,500
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 142,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,000 14,300
Miếng SJC Nghệ An 14,000 14,300
Miếng SJC Thái Bình 14,000 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 14,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 14,300
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,580 14,180
Trang sức 99.99 13,590 14,190
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 140 14,302
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 140 14,303
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,395 1,425
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,395 1,426
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 1,415
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 140,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 106,286
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 9,638
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 86,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 82,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 59,161
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 140 143
Cập nhật: 08/10/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17529 17802 18374
CAD 17675 17949 18562
CHF 30527 30903 31550
CNY 0 3831 3926
EUR 28461 28678 29755
GBP 33498 33886 34820
HKD 0 3178 3380
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14236 14818
SGD 19739 20020 20598
THB 688 751 804
USD (1,2) 25702 0 0
USD (5,10,20) 25741 0 0
USD (50,100) 25769 25783 26148
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,516 28,539 29,894
JPY 160.09 160.38 170.1
GBP 33,684 33,775 34,957
AUD 17,732 17,796 18,477
CAD 17,867 17,924 18,586
CHF 30,791 30,887 31,809
SGD 19,878 19,940 20,722
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,243 3,253 3,390
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 736.09 745.18 798.12
NZD 14,216 14,348 14,779
SEK - 2,553 2,644
DKK - 3,825 3,961
NOK - 2,666 2,761
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,940.07 - 6,704.73
TWD 735.94 - 891.63
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,039 87,297
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,554 28,697 29,901
GBP 33,684 33,853 34,884
HKD 3,241 3,257 3,375
CHF 30,650 30,804 31,749
JPY 160.29 161.42 169.40
AUD 17,739 17,828 18,425
SGD 19,941 20,041 20,637
THB 752 756 793
CAD 17,878 17,968 18,563
NZD 14,305 14,860
KRW 18.75 20.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25740 25770 26170
AUD 17715 17815 18740
CAD 17854 17954 18968
CHF 30765 30795 32369
CNY 3814.1 3839.1 3974.3
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28636 28666 30389
GBP 33791 33841 35612
HKD 0 3315 0
JPY 160.65 161.15 171.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14341 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19904 20034 20756
THB 0 717 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,691 25,811 26,180
USD20 25,661 25,811 26,180
USD1 25,641 25,811 26,180
AUD 17,793 17,893 19,000
EUR 28,425 28,525 30,184
CAD 17,866 17,966 19,273
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 161.12 162.62 168.14
GBP 33,762 33,912 34,974
XAU 13,998,000 0 14,302,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/10/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30