Ngày 3/10: Giá lúa tươi tại Đồng bằng sông Cửu Long tăng giảm đan xen
![]() |
| Giá lúa tươi hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long tăng giảm trái chiều. Ảnh minh họa |
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 hôm nay tăng 100 đồng/kg dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 tăng 50 đồng/kg dao động mốc 6.000 - 6.150 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 giảm 100 đồng/kg dao động ở mức 5.800 - 6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 dao động mốc 5.700 - 5.900 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động ở mốc 6.100 - 6.200 đồng/kg.
Tại các địa phương hôm nay, lúa Hè Thu vãn nguồn, lúa Thu Đông giao dịch ít, giá lúa vững. Tại An Giang, nguồn lúa Hè Thu vãn đồng, nguồn còn ít, giá biến động nhẹ trái chiều. Tại Cần Thơ, Đồng Tháp, Tây Ninh, Vĩnh Long, Cà Mau giá lúa biến động nhẹ.
Với mặt hàng gạo, giá gạo nguyên liệu xuất khẩu CL 555 hôm nay dao động ở mức 8.750 - 8.850 đồng/kg; giá gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động ở mức 8.700 - 8.800 đồng/kg; gạo nguyên liệu OM 5451 dao động ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 18 dao động ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; gạo nguyên liệu Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu OM 380 dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg; gạo nguyên liệu xuất khẩu Sóc thơm dao động ở mức 7.500 - 7.600 đồng/kg.
Với phụ phẩm, giá các mặt hàng phụ phẩm dao động khoảng từ 7.500 - 9.050 đồng/kg. Hiện tấm thơm tăng 50 đồng/kg dao động ở mức 8.900 - 9.050 đồng/kg; giá cám dao động ở mức 7.500 - 7.700 đồng/kg.
Tại các chợ lẻ, hiện gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động ở mức 20.000 - 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa ở mốc 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine dao động ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; gạo Đài thơm dao động 15.500 - 16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng ở mốc 16.000 đồng/kg; giá gạo thường dao động ở mốc 14.000 - 15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường dao động ở mốc 15.000 - 16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái giá 20.000 đồng/kg; gạo Nhật giá 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động ở mốc 15.500 - 16.500 đồng/kg.
Phân khúc nếp bình ổn. Cụ thể, giá nếp 3 tháng khô 9.600 - 9.700 đồng/kg; giá nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg; nếp IR 5625 tươi) ở mức 7.300 - 7.500 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo xuất khẩu Việt Nam đi ngang so với hôm qua. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo thơm 100% tấm dao động từ 371 - 375 USD/tấn; gạo Jasmine được chào bán ở mức 515 - 519 USD/tấn;; gạo thơm 5% tấm dao động trong khoảng 440 - 445 USD/tấn.
Tại các quốc gia xuất khẩu hàng đầu khác, giá gạo trắng 5% tấm của Thái Lan giảm thêm 4 USD/tấn, xuống còn 455 - 459 USD/tấn. Đáng chú ý, giá gạo trắng 5% tấm của Pakistan giảm tới 13 USD/tấn, dao động từ 409 - 413 USD/tấn.
Tại Ấn Độ, giá gạo trắng 5% tấm tăng nhẹ 1 USD/tấn, lên mức 382 - 386 USD/tấn. Tương tự, gạo đồ 5% tấm tăng thêm 1 USD/tấn, ở mức 381 - 385 USD/tấn.
Ở quy mô toàn cầu, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc hiện dự báo sản lượng gạo 2026 -20 27 đạt 553,1 triệu tấn, giảm 1,9%, trong khi tiêu thụ tăng 0,5% lên 559 triệu tấn. Vì vậy, điểm quyết định xu hướng giá sẽ nằm ở sản lượng thực tế và tốc độ mua hàng từ các thị trường nhập khẩu trong quý IV./.



