LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
aa

Từ các tỷ lệ thanh khoản đến khả năng chống chịu

Trong nhiều năm qua, quản lý thanh khoản của các ngân hàng Việt Nam gắn với những chỉ tiêu quen thuộc như tỷ lệ dự trữ thanh khoản, tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung dài hạn, hay tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (Loans-to-Deposits ratio - LDR). Thông tư 50 bổ sung LCR và NSFR vào hệ thống các tỷ lệ an toàn, qua đó mở rộng cách đánh giá thanh khoản ngân hàng.

Có thể hiểu đơn giản, LCR trả lời câu hỏi ngân hàng có đủ nguồn lực thanh khoản để ứng phó trong 30 ngày căng thẳng hay không. Tỷ lệ này so sánh lượng tài sản thanh khoản chất lượng cao (High-quality liquid assets - HQLA) với dòng tiền ra ròng dự kiến trong 30 ngày. Điểm đáng chú ý là dòng tiền được tính trong điều kiện căng thẳng, thay vì dựa trên hoạt động bình thường. Cách tiếp cận này giúp ngân hàng tăng khả năng chủ động trước những biến động bất ngờ về dòng tiền. Tuy nhiên, lượng tài sản thanh khoản cần phải được xác định phù hợp với quy mô và khẩu vị rủi ro của từng ngân hàng, vừa góp phần bảo đảm an toàn, vừa đáp ứng mục tiêu sử dụng vốn hiệu quả.

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng
Lộ trình áp dụng tỷ lệ LCR và NSFR theo Thông tư số 50/2026/TT-NHNN. Ảnh minh hoạ.

Nếu LCR tập trung vào khả năng ứng phó với căng thẳng thanh khoản trong 30 ngày, NSFR nhìn vào một câu hỏi dài hạn hơn: ngân hàng có đang sử dụng nguồn vốn đủ ổn định để tài trợ cho các khoản cho vay và đầu tư của mình hay không? Đây là vấn đề quan trọng bởi ngân hàng thường huy động tiền gửi có kỳ hạn ngắn nhưng lại cho vay trong thời gian dài hơn. Do đó, ngân hàng sẽ phải thường xuyên huy động nguồn vốn mới để bù đắp khi nguồn vốn cũ rút ra hoặc đáo hạn.

Vì vậy, NSFR đánh giá các nguồn vốn khác nhau theo mức độ ổn định: nguồn vốn càng ổn định và có kỳ hạn phù hợp thì càng có giá trị trong việc tài trợ cho các tài sản dài hạn. Qua đó, NSFR khuyến khích ngân hàng cân đối tốt hơn giữa thời hạn của nguồn vốn huy động và thời hạn của các khoản cho vay, đầu tư, đồng thời đa dạng hóa và củng cố cơ cấu nguồn vốn.

Thay đổi không chỉ nằm ở LCR và NSFR

Việc áp dụng LCR và NSFR không có nghĩa các tỷ lệ thanh khoản truyền thống hoàn toàn biến mất. Thông tư 50 vẫn duy trì LDR với mức tối đa 95%. Ba tỷ lệ này phản ánh những góc nhìn khác nhau: LDR thể hiện tương quan giữa cho vay và tiền gửi; LCR tập trung vào khả năng đáp ứng dòng tiền trong giai đoạn căng thẳng ngắn hạn; còn NSFR xem xét tính ổn định của nguồn vốn trong mối quan hệ với cơ cấu tài sản.

Cơ cấu tiền gửi, kỳ hạn huy động và các nguồn tài trợ khác cũng cần được xem xét trong mối quan hệ với cơ cấu tài sản. Theo đó, LCR và NSFR có thể trở thành một phần trong quá trình ra quyết định kinh doanh, thay vì chỉ là các chỉ tiêu để tính toán và báo cáo. Mức độ tác động sẽ khác nhau giữa các ngân hàng, tùy thuộc vào trạng thái thanh khoản, cơ cấu nguồn vốn và bảng cân đối hiện tại.

Điều đáng chú ý hơn là các quy định mới có thể tác động đến cách ngân hàng quản trị tài sản và nguồn vốn. Khi mở rộng tín dụng hoặc đầu tư, ngân hàng không chỉ xem xét lợi nhuận và rủi ro của tài sản mà còn phải tính đến nhu cầu thanh khoản và nguồn vốn ổn định đi kèm.

Thông tư 50 cũng mở rộng yêu cầu quản trị sang thanh khoản trong ngày. Ngân hàng cần theo dõi dòng tiền vào, dòng tiền ra và khả năng thiếu hụt tại các thời điểm khác nhau trong ngày, đồng thời chuẩn bị nguồn thanh khoản và tài sản bảo đảm có thể sử dụng khi cần. Điều này bổ sung thêm một góc nhìn cho việc quản lý thanh khoản, khi ngân hàng không chỉ quan tâm đến trạng thái thanh khoản tại cuối ngày mà còn phải theo dõi diễn biến dòng tiền trong ngày.

Bên cạnh đó, kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản được quy định cụ thể hơn. Các ngân hàng cần xây dựng các kịch bản căng thẳng dựa trên dữ liệu lịch sử, hành vi khách hàng, dòng tiền và cấu trúc tài sản - nguồn vốn. Kết quả có thể được sử dụng để xác định quy mô tài sản thanh khoản, giới hạn rủi ro và kế hoạch nguồn vốn dự phòng.

Lộ trình dài để các ngân hàng chủ động chuyển đổi

Thông tư 50 thiết kế lộ trình nhiều năm thay vì yêu cầu các ngân hàng đáp ứng ngay mức 100%. Đối với NSFR, mức tối thiểu bắt đầu ở 90% từ 1/10/2028, tăng lên 95% từ 1/10/2029 và đạt 100% từ 1/10/2030. Với LCR quy đổi sang VNĐ, mức tối thiểu bắt đầu ở 50% từ 1/10/2028, sau đó tăng từng bước và đạt 100% từ 1/10/2033. Lộ trình này tạo khoảng thời gian để các ngân hàng chuẩn bị. Đáng chú ý, ngân hàng không nhất thiết phải chờ đến thời hạn bắt buộc mà có thể đăng ký áp dụng LCR và NSFR sớm nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định.

Khoảng thời gian từ nay đến năm 2028 vì vậy có thể được xem là giai đoạn chuẩn bị. Việc tính toán LCR và NSFR đòi hỏi dữ liệu về tài sản, nguồn vốn và dòng tiền được phân loại theo nhiều tiêu chí như kỳ hạn, đối tượng khách hàng, loại tiền, tài sản bảo đảm và mức độ ổn định của nguồn vốn.

Quá trình triển khai do đó không chỉ liên quan đến bộ phận quản trị rủi ro mà còn cần sự phối hợp của các bộ phận khác như quản trị tài sản – nguồn vốn, tài chính, công nghệ thông tin và cả các đơn vị kinh doanh. Việc tính toán thử LCR và NSFR trước thời điểm bắt buộc cũng có thể giúp ngân hàng đánh giá vị thế hiện tại và chủ động xây dựng kế hoạch phù hợp.

Ở góc độ toàn hệ thống, lộ trình chuyển tiếp cũng giúp cơ quan quản lý có thời gian theo dõi phản ứng của thị trường. Khi các ngân hàng từng bước điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn và tài sản thanh khoản, những thay đổi về nhu cầu vốn, chi phí huy động hay hoạt động trên thị trường tiền tệ có thể được quan sát và đánh giá trong quá trình triển khai.

Nhìn tổng thể, điểm đáng chú ý của Thông tư 50 không chỉ là việc bổ sung LCR và NSFR. Các quy định mới hướng tới cách quản trị thanh khoản toàn diện hơn, kết hợp giữa khả năng đáp ứng dòng tiền trong ngắn hạn, sự ổn định của nguồn vốn trong dài hạn và quản lý dòng tiền trong hoạt động hàng ngày. Với lộ trình kéo dài nhiều năm, các ngân hàng có thời gian chuẩn bị dữ liệu, hệ thống và từng bước điều chỉnh cơ cấu tài sản - nguồn vốn phù hợp với các yêu cầu mới.

Lê Tiến Trung - Giảng viên Tài chính Ngân hàng – Trường Kinh tế, Đại học Phenikaa

Đọc thêm

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

(TBTCO) - Ngày 29/9/2026 vừa qua, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) và Tổng công ty Truyền thông - Chi nhánh Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Tổng công ty VNPT-Media) đã chính thức tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác. Sự kiện mở ra giai đoạn hợp tác mới giữa hai đơn vị, kết nối năng lực bảo hiểm của MIC với thế mạnh về công nghệ, nền tảng và hệ sinh thái khách hàng của VNPT, hướng tới nâng cao giá trị và trải nghiệm cho khách hàng.
Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

(TBTCO) - Một lần quét QR giúp người Việt thanh toán tại nhiều quốc gia và ngược lại, nhưng phía sau là hệ thống phức tạp cùng nỗ lực của nhiều bên. VietQR Global hiện phủ hơn 6% điểm chấp nhận trong nước, với nhiều dư địa mở rộng, song bài toán không chỉ là độ phủ, kết nối thêm thị trường mà còn gia tăng giao dịch thực tế.
MB mở rộng vai trò kết nối dòng vốn

MB mở rộng vai trò kết nối dòng vốn

(TBTCO) - Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động và nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn, bài toán phát triển thị trường vốn trở nên cấp thiết. Với quy mô tài sản hơn 1,73 triệu tỷ đồng cùng hệ sinh thái 8 doanh nghiệp thành viên, chiến lược của MB là một tập đoàn tài chính kết nối ngân hàng, chứng khoán, quản lý quỹ, bảo hiểm và tài chính tiêu dùng trên một nền khách hàng chung.
Hơn 11 triệu cổ phiếu lên UPCoM, F88 đẩy mạnh huy động vốn nhiều kênh

Hơn 11 triệu cổ phiếu lên UPCoM, F88 đẩy mạnh huy động vốn nhiều kênh

(TBTCO) - Ngày 30/9, hơn 11 triệu cổ phiếu F88 từ đợt chào bán ra công chúng chính thức giao dịch trên UPCoM, giúp doanh nghiệp huy động gần 782 tỷ đồng. Để mở rộng cho vay, F88 đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn qua trái phiếu và khoảng 1.300 tỷ đồng vay quốc tế. Doanh nghiệp kỳ vọng lợi nhuận năm 2026 đạt 1.500 tỷ đồng, tăng 65% và vượt kế hoạch đề ra.
Cần sớm chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính ở Việt Nam

Cần sớm chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính ở Việt Nam

(TBTCO) - TS. Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA) cho rằng đã đến lúc cần xây dựng cơ sở pháp lý và lộ trình chuẩn hóa nghề tư vấn tài chính tại Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲200K 144,300 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲20K 14,430 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲20K 14,430 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲20K 14,430 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 ▲70K 14,430 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 ▲70K 14,430 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 ▲70K 14,430 ▲20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,740 ▲20K 14,340 ▲20K
Trang sức 99.99 13,750 ▲20K 14,350 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲2K 14,432 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲2K 14,433 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲2K 1,439 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 ▲2K 1,428 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 ▲198K 141,386 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 ▲150K 107,261 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 ▲136K 97,264 ▲136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 ▲122K 87,267 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 ▲117K 83,411 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 ▲44922K 59,704 ▲53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲2K 1,443 ▲2K
Cập nhật: 01/10/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17494 17767 18343
CAD 17708 17982 18595
CHF 30463 30838 31478
CNY 0 3833 3928
EUR 28700 28918 29994
GBP 33521 33909 34841
HKD 0 3180 3382
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14259 14844
SGD 19747 20029 20596
THB 687 750 803
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,762 28,785 30,151
JPY 159.6 159.89 169.55
GBP 33,720 33,811 34,984
AUD 17,693 17,757 18,431
CAD 17,900 17,957 18,620
CHF 30,729 30,825 31,741
SGD 19,872 19,934 20,715
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,245 3,255 3,391
KRW 17.59 18.34 19.96
THB 735.06 744.14 796.77
NZD 14,254 14,386 14,814
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,857 3,994
NOK - 2,647 2,741
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.47 - 6,707.29
TWD 733.6 - 888.79
SAR - 6,802.81 7,166.27
KWD - 82,124 87,387
AED - 6,820 7,348
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 28,901 29,017 30,231
GBP 33,851 33,987 35,020
HKD 3,242 3,255 3,372
CHF 30,582 30,705 31,646
JPY 160.63 161.28 169.26
AUD 17,716 17,787 18,383
SGD 19,962 20,042 20,635
THB 753 756 793
CAD 17,917 17,989 18,582
NZD 14,398 14,947
KRW 18.43 20.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25770 25770 26160
AUD 17700 17800 18726
CAD 17892 17992 19007
CHF 30614 30644 32221
CNY 3813.2 3838.2 3973.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28938 28968 30691
GBP 33936 33986 35739
HKD 0 3315 0
JPY 160.48 160.98 171.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14384 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19917 20047 20769
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14130000 14130000 14470000
SBJ 12500000 12500000 14470000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,674 25,794 26,150
USD20 25,644 25,794 26,150
USD1 25,624 25,794 26,150
AUD 17,750 17,850 18,955
EUR 28,754 28,854 30,530
CAD 17,827 17,927 19,234
SGD 19,879 19,879 20,706
JPY 161.09 162.59 168.12
GBP 33,813 33,963 35,370
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/10/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30