Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
aa

Thị trường trong nước

Sáng 29/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.630 đồng, giảm 2 đồng so với phiên trước. Tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng điều chỉnh tương ứng.

Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 24.348,5 - 26.911,5 VND/USD.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giao dịch quanh 25.900 - 25.950 VND/USD.

Tại các ngân hàng thương mại, sáng 29/9, tỷ giá ngoại tệ diễn biến phân hóa trong biên độ hẹp. Trong khi USD ổn định và JPY nhích nhẹ, tỷ giá EUR, GBP và CNY biến động trái chiều giữa các ngân hàng.

Theo đó, tỷ giá USD đi ngang tại cả hai ngân hàng. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD mua vào - bán ra ở mức 25.760 - 26.170 VND/USD, không thay đổi ở cả hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD cũng giữ nguyên, mua vào - bán ra ở mức 25.790 - 26.170 VND/USD.

Diễn biến tỷ giá USD, EUR, GBP, JPY, CNY tại Vietcombank, BIDV phiên sáng 29/9 như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (29/9):
Biến động tỷ giá ngoại tệ so với phiên trước. Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trong khi đó, tỷ giá GBP đảo chiều tăng nhẹ, với mức điều chỉnh tương đối đồng đều giữa hai ngân hàng. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP mua vào - bán ra đạt 33.527,05 - 34.950,92 VND/GBP, tăng lần lượt 25,32 đồng và 26,39 đồng. Tại BIDV, tỷ giá GBP tăng 26 đồng ở chiều mua vào và 32 đồng ở chiều bán ra, lên 33.794 - 35.063 VND/GBP.

Thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm.

Đồng USD tiếp tục mở rộng đà phục hồi và vươn lên mức cao nhất trong hai tháng, được hỗ trợ bởi lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng mạnh, kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, căng thẳng tại Trung Đông và các số liệu kinh tế Mỹ tích cực hơn dự kiến.

Dữ liệu kinh tế tạo thêm lực đỡ cho đồng USD. Các số liệu sơ bộ về hoạt động kinh doanh của Mỹ trong tháng 9 tăng bất ngờ, củng cố nhận định rằng nền kinh tế Mỹ vẫn duy trì sức tăng trưởng tương đối mạnh.

Ở chiều ngược lại, thị trường đang theo dõi những tín hiệu mới về ngoại giao Trung Đông. Theo Reuters, Mỹ và Iran dự kiến nối lại các cuộc đàm phán gián tiếp. Các bên trung gian dự kiến làm việc riêng với đại diện hai nước, với nội dung thảo luận tập trung vào phiên bản sửa đổi của đề xuất kéo dài 7 ngày do Iran đưa ra bên lề Đại hội đồng Liên Hợp Quốc.

Trong khi USD duy trì sức mạnh, đồng rupee Ấn Độ (INR) chịu áp lực đáng kể, giảm khoảng 6,5% so với USD từ đầu năm 2026 và giao dịch gần mức thấp kỷ lục trước cuộc họp của Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) ngày 5 - 7/10. Các nhà kinh tế kỳ vọng RBI tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản trong tháng 10 và có thể tiếp tục tăng vào tháng 12 nhằm kiểm soát lạm phát.

Lạm phát của Ấn Độ, đo bằng chỉ số giá tiêu dùng (CPI), tăng lên 4,82% trong tháng 8 so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát gia tăng, tăng trưởng kinh tế mạnh và thanh khoản dồi dào trong hệ thống ngân hàng đang tạo thêm dư địa để RBI thắt chặt chính sách.

Đồng INR còn chịu sức ép từ chênh lệch lãi suất với Mỹ thu hẹp và USD tăng giá trên diện rộng, trong bối cảnh Fed phát tín hiệu thắt chặt và lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ lên mức cao nhất trong nhiều năm. Dù vậy, hoạt động can thiệp trên thị trường ngoại hối của RBI cùng các biện pháp của Chính phủ Ấn Độ nhằm thu hút dòng vốn USD đang góp phần hạn chế đà mất giá của đồng rupee.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) được kỳ vọng rộng rãi sẽ tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, từ 4,35% lên 4,6% trong cuộc họp chính sách ngày thứ ba, sau khi giữ nguyên lãi suất tại hai cuộc họp liên tiếp trước đó.

Trong bối cảnh thị trường gần như đã phản ánh khả năng RBA tăng lãi suất, tâm điểm chú ý sẽ chuyển sang thông điệp của Thống đốc RBA Michele Bullock về bước đi tiếp theo. Những tín hiệu cho thấy RBA có thể tiếp tục thắt chặt hoặc chuyển sang thận trọng hơn sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến đồng đô la Úc (AUD).

Áp lực tăng lãi suất xuất phát từ việc lạm phát tại Úc vẫn dai dẳng, dù thị trường lao động đã có dấu hiệu hạ nhiệt. Chỉ số CPI tháng 7 tăng 1%, cao hơn mức dự báo 0,8%, trong khi lạm phát tính theo năm vẫn ở mức 3,5%.

Do đó, bên cạnh quyết định lãi suất, định hướng chính sách mà RBA phát đi sau cuộc họp mới là yếu tố có thể quyết định phản ứng của AUD, đặc biệt khi thị trường cân nhắc liệu đợt tăng lần này chỉ là một bước điều chỉnh hay mở đường cho một chu kỳ thắt chặt tiếp theo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 ▼1400K 141,000 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 ▼140K 14,100 ▼140K
Miếng SJC Nghệ An 13,800 ▼140K 14,100 ▼140K
Miếng SJC Thái Bình 13,800 ▼140K 14,100 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼140K 14,150 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼140K 14,150 ▼140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼140K 14,150 ▼140K
NL 99.99 13,250 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼150K
Trang sức 99.9 13,460 ▼140K 14,060 ▼140K
Trang sức 99.99 13,470 ▼140K 14,070 ▼140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 ▼1256K 14,102 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 ▼1256K 14,103 ▼140K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,375 ▼14K 1,405 ▼14K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,375 ▼14K 1,406 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 135 ▼1229K 1,395 ▼14K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 ▼1386K 138,119 ▼1386K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 ▼1051K 104,785 ▼1051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 ▼953K 95,019 ▼953K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 ▼854K 85,254 ▼854K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 ▼816K 81,487 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 ▼584K 58,327 ▼584K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1256K 141 ▼1283K
Cập nhật: 29/09/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17691 17964 18545
CAD 17795 18069 18682
CHF 30562 30938 31582
CNY 0 3831 3926
EUR 28899 29118 30195
GBP 33611 34000 34941
HKD 0 3181 3383
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14404 14991
SGD 19790 20072 20639
THB 688 751 804
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,950 28,973 30,345
JPY 160.63 160.92 170.65
GBP 33,794 33,885 35,063
AUD 17,877 17,942 18,628
CAD 17,977 18,035 18,699
CHF 30,817 30,913 31,847
SGD 19,909 19,971 20,754
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.61 18.36 19.98
THB 736.96 746.06 798.83
NZD 14,380 14,514 14,948
SEK - 2,562 2,653
DKK - 3,883 4,020
NOK - 2,675 2,771
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,945.89 - 6,714.59
TWD 736.8 - 892.67
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26160
AUD 17856 17956 18878
CAD 17959 18059 19074
CHF 30796 30826 32400
CNY 3810.1 3835.1 3970.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29063 29093 30819
GBP 33893 33943 35704
HKD 0 3315 0
JPY 161.45 161.95 172.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14494 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19940 20070 20795
THB 0 717 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14320000
SBJ 12000000 12000000 14320000
Cập nhật: 29/09/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30