PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
aa
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, “núi” nợ và lãi treo vẫn đè nặng Kinh doanh gần như “đóng băng”, một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank - mã CK: PCB) vừa công bố thông tin bất thường liên quan đến chào bán chứng khoán.

Theo đó, PVcomBank phê duyệt giá cổ phần chào bán riêng lẻ cho nhà đầu tư ở mức 13.628 đồng/cổ phần, trong quá trình triển khai phương án tăng vốn điều lệ của ngân hàng.

Cổ phiếu PCB giao dịch trên UPCoM từ ngày 12/8/2026. Kết phiên ngày 28/9, PCB đóng cửa ở mức 8.900 đồng/cổ phiếu, tăng 4,71%, với khối lượng giao dịch trên 700 nghìn cổ phiếu, giá trị khoảng 6,3 tỷ đồng. Giá chào bán riêng lẻ 13.628 đồng/cổ phần cao hơn 53% so với thị giá hiện tại.

Trong bối cảnh thị giá đang thấp hơn đáng kể giá chào bán, khả năng phân phối thành công 300 triệu cổ phiếu sẽ là yếu tố đáng chú ý đối với kế hoạch tăng vốn của PVcomBank.

Nếu hoàn tất toàn bộ đợt chào bán ở mức 13.628 đồng/cổ phần, PVcomBank có thể thu về hơn 4.088 tỷ đồng, đồng thời, nâng vốn điều lệ thêm 33,3%, từ 9.000 tỷ đồng lên 12.000 tỷ đồng.

Về cơ cấu cổ đông, thông tin từ PVcomBank cho thấy, tại ngày 25/5/2026, PVcomBank có 7.253 cổ đông. Trong đó, 7.250 cổ đông không phải cổ đông lớn nắm giữ hơn 371,27 triệu cổ phần, tương đương 41,25% vốn điều lệ. Hai cổ đông lớn sở hữu tổng cộng 528 triệu cổ phần, chiếm 58,67% vốn. Ngoài ra, ngân hàng có hơn 727.000 cổ phiếu quỹ, tương ứng 0,08%.

PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần

Việc ấn định giá chào bán riêng lẻ cao hơn 50% so với thị giá tạo ra khoảng cách đáng kể, nhất là khi cổ phiếu PCB mới giao dịch trên UPCoM từ giữa tháng 8/2026 và thanh khoản còn khá thấp.

Điều này có thể gây áp lực lên khả năng phân phối, do nhà đầu tư phải chấp nhận mức giá cao hơn nhiều so với mua trên thị trường.

Tuy nhiên, với quy mô chào bán 300 triệu cổ phiếu, tương đương 25% vốn điều lệ dự kiến sau phát hành, sức hấp dẫn của thương vụ có thể không chỉ nằm ở thị giá PCB, mà còn ở cơ hội sở hữu một lượng cổ phần đáng kể. Vì vậy, danh tính nhà đầu tư, cùng tỷ lệ cổ phần được phân phối cho từng bên sẽ là yếu tố đáng chú ý trong đợt chào bán của PVcomBank.

Theo đại diện PVcomBank, việc tăng vốn là cần thiết trong bối cảnh tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất của PVcomBank tại thời điểm cuối năm 2025 mới đạt 8,21%, tiệm cận mức tối thiểu theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN và thấp hơn đáng kể so với quy định tại Thông tư số 14/2025/NHNN (duy trì ổn định ở mức 10,5% để đạt điều kiện chia cổ tức bằng tiền mặt).

Mức vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng được PVcomBank duy trì từ năm 2013 đến nay. Sau hơn một thập kỷ không thay đổi quy mô vốn, việc bổ sung vốn điều lệ sẽ tạo thêm dư địa cho ngân hàng mở rộng hoạt động và củng cố năng lực tài chính.

Về kết quả kinh doanh, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, PVcomBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 1.023,1 tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ và cao hơn nhiều so với kế hoạch (114,3 tỷ đồng).

Động lực đáng kể đến từ thu nhập lãi thuần tăng 59,1%, đạt 2.716,6 tỷ đồng. Trong đó, thu lãi cho vay tăng 46,2%, lên 9.520,1 tỷ đồng, trong khi dư nợ cho vay tăng khoảng 7%.

Tuy nhiên, sự cải thiện của thu nhập lãi chưa bù đắp được mức suy giảm ở một số nguồn thu ngoài lãi. Tổng thu nhập hoạt động giảm 9,8%, còn 3.482 tỷ đồng, chủ yếu do kết quả từ hoạt động khác sụt giảm mạnh, do khoản thu hồi các khoản nợ đã xử lý giảm.

Trong bối cảnh đó, việc chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm mạnh 85,8%, xuống 181,6 tỷ đồng, là một trong những yếu tố quan trọng giúp lợi nhuận trước thuế của PVcomBank vẫn tăng 25,9% so với cùng kỳ.

Về quy mô hoạt động, đến cuối tháng 6/2026, tổng tài sản của PVcomBank đạt 278.431 tỷ đồng, tăng 5,7% so với đầu năm, trong khi dư nợ cho vay khách hàng tăng 7,1%.

Chất lượng tín dụng vẫn là yếu tố cần theo dõi khi quy mô nợ xấu PVcomBank tăng lên 4.598 tỷ đồng. Riêng nợ có khả năng mất vốn tăng gần 20%, lên 3.855 tỷ đồng và chiếm khoảng 84% tổng nợ xấu. Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu từ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng ở mức 49,8%.

Ngoài ra, các chỉ tiêu ngoại bảng của PVcomBank cũng cho thấy áp lực về chất lượng tín dụng. Theo đó, lãi và phí phải thu chưa thu được tăng lên 9.280 tỷ đồng, lọt top 5 toàn ngành. Trong khi đó, tổng nợ đã xử lý rủi ro, nhưng vẫn “treo” ngoại bảng đạt hơn 28.151 tỷ đồng, tăng 7,7%. Điều này phản ánh khối lượng các khoản nợ cần tiếp tục theo dõi và thu hồi của PVcomBank vẫn ở mức rất lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
NL 99.99 13,400 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼150K
Trang sức 99.9 13,600 ▼200K 14,200 ▼200K
Trang sức 99.99 13,610 ▼200K 14,210 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▼20K 14,242 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▼20K 14,243 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 ▼20K 1,419 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 ▼20K 142 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 ▼20K 1,409 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 ▼1980K 139,505 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 ▼1500K 105,836 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 ▼1360K 95,972 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 ▼1220K 86,108 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 ▼1166K 82,303 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 ▼834K 58,911 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cập nhật: 28/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18552
CAD 17821 18095 18711
CHF 30648 31024 31663
CNY 0 3826 3921
EUR 28944 29163 30240
GBP 33654 34042 34976
HKD 0 3180 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14410 14996
SGD 19777 20058 20636
THB 689 752 805
USD (1,2) 25706 0 0
USD (5,10,20) 25745 0 0
USD (50,100) 25773 25787 26154
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,775 25,775 26,155
USD(1-2-5) 24,744 - -
USD(10-20) 24,744 - -
EUR 28,958 28,981 30,354
JPY 161.06 161.35 171.13
GBP 33,832 33,924 35,098
AUD 17,879 17,944 18,631
CAD 17,993 18,051 18,718
CHF 30,848 30,944 31,860
SGD 19,890 19,952 20,736
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,243 3,253 3,389
KRW 17.6 18.35 19.97
THB 736.97 746.07 798.37
NZD 14,375 14,508 14,947
SEK - 2,563 2,655
DKK - 3,884 4,022
NOK - 2,680 2,775
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,939.52 - 6,704.16
TWD 737.02 - 892.94
SAR - 6,798.21 7,161.14
KWD - 82,097 87,360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26150
AUD 17869 17969 18894
CAD 17993 18093 19107
CHF 30825 30855 32441
CNY 3807.6 3832.6 3967.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29089 29119 30842
GBP 33861 33911 35666
HKD 0 3315 0
JPY 161.17 161.67 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14503 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19917 20047 20778
THB 0 717.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14370000
SBJ 13000000 13000000 14370000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,671 25,791 26,150
USD20 25,641 25,791 26,150
USD1 25,621 25,791 26,150
AUD 17,917 18,017 19,130
EUR 28,888 28,988 30,648
CAD 17,941 18,041 19,349
SGD 19,872 19,872 20,709
JPY 161.69 163.19 168.73
GBP 33,757 33,907 34,970
XAU 13,938,000 0 14,242,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30