Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
aa

Ba ngân hàng trung ương lớn cùng tăng lãi suất, nỗi lo trở lại

Hiếm khi các ngân hàng trung ương lớn trên thế giới cùng điều chỉnh chính sách theo một hướng, bởi mỗi nền kinh tế có nhịp tăng trưởng và lạm phát riêng.

Thế nhưng, chỉ trong hơn một tuần, “làn sóng” thắt chặt tiền tệ đã đồng loạt xuất hiện, khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản ngày 10/9/2026, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có động thái tương tự ngày 16/9 và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tiếp bước ngày 18/9. Trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ nguyên lãi suất, nhưng để ngỏ khả năng thắt chặt nếu áp lực giá gia tăng.

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ
Đồ họa tư liệu

Dù mỗi nền kinh tế ở trạng thái khác nhau, các ngân hàng trung ương lại cùng đối mặt với một mối lo, đó là lạm phát có nguy cơ trở nên dai dẳng hơn, sau cú sốc giá năng lượng mới do xung đột tại Trung Đông.

Điều khiến các ngân hàng trung ương lo ngại không chỉ là giá dầu tăng trực tiếp, mà là nguy cơ chi phí năng lượng cao kéo dài sẽ lan sang nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ và tiền lương, từ đó tạo ra hiệu ứng vòng hai đối với lạm phát. Khi kỳ vọng lạm phát đã ăn sâu vào hành vi định giá và tiền lương, việc đưa lạm phát trở lại mục tiêu sẽ khó khăn và tốn kém hơn.

Một yếu tố khác giúp các ngân hàng trung ương duy trì lập trường cứng rắn là hoạt động kinh tế nhìn chung vẫn chống chịu tốt hơn dự kiến, bất chấp bất ổn toàn cầu và mặt bằng lãi suất cao.

Đáng chú ý, Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản, lên mức 3,75 - 4%, đánh dấu lần tăng đầu tiên sau hơn 3 năm, kể từ tháng 7/2023, đồng thời nâng dự báo lạm phát và đưa ra lộ trình lãi suất cao hơn.

Trong nhiều thập kỷ, Nhật Bản đi ngược xu hướng tiền tệ toàn cầu khi duy trì chính sách siêu nới lỏng để thoát khỏi tình trạng giảm phát. Giai đoạn đó đang dần khép lại.

Chính sách thắt chặt tiền tệ trở lại, Việt Nam có phải “nối gót”?

Trong làn sóng thắt chặt tiền tệ đang lan rộng trên thế giới, câu hỏi đặt ra là liệu Việt Nam có đứng trước khả năng đảo chiều chính sách, “nối gót” các ngân hàng trung ương lớn, hay sẽ lựa chọn một hướng đi khác khi bối cảnh, bài toán chính sách và mục tiêu ưu tiên có nhiều khác biệt.

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc của AFA Capital cho rằng, “nước chảy chỗ trũng”, dòng tiền rất thông minh, nơi nào có lãi suất cao và ổn định thì chắc chắn sẽ thu hút dòng tiền.

Khó lặp lại kịch bản thắt chặt tiền tệ

“Việt Nam tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ theo hướng hỗ trợ nền kinh tế. Dù lãi suất thị trường hiện ở mức cao, Ngân hàng Nhà nước vẫn thúc đẩy tăng trưởng tín dụng một cách có chọn lọc, các dự án lớn không tính vào hạn mức tăng trưởng tín dụng, trong khi những dự án có khả năng tạo vòng quay tiền được ưu tiên giải ngân. Khả năng tăng lãi suất điều hành, thắt chặt tín dụng hoặc thắt chặt thanh khoản nền kinh tế như năm 2022 sẽ không xảy ra”. Ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc của AFA Capital.

Nhìn lại giai đoạn từ tháng 5/2021 đến tháng 10/2022, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - đã tăng liên tục từ khoảng 90 điểm lên 113 điểm, tương ứng tăng mạnh 25%. Đà tăng diễn ra khi Fed liên tục nâng lãi suất từ tháng 2/2022, với tổng cộng 9 lần tăng trước khi dừng chu kỳ thắt chặt vào tháng 3/2023.

Thời điểm đó, trước áp lực từ bên ngoài, Việt Nam phản ứng chậm hơn nhưng đến tháng 9 và 10/2022 đã hai lần tăng mạnh lãi suất điều hành, mỗi lần 100 điểm cơ bản. Mặt bằng lãi suất tăng sau đó gây sức ép đáng kể lên các tài sản rủi ro, kéo thị trường cổ phiếu và bất động sản giảm mạnh.

Hiện tại, sau khi Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm vào giữa tháng 9/2026, đồng USD tiếp tục mạnh lên, đưa chỉ số DXY lên khoảng 101,25 điểm và tiến sát vùng cao nhất trong 9 tháng qua.

Khi USD mạnh lên, áp lực lên tỷ giá USD/VND gia tăng, đặt ra bài toán liệu Việt Nam có phải điều chỉnh lãi suất trong nước.

Theo ông Nguyễn Minh Tuấn, đây là “hai mặt của một đồng xu”, khi lãi suất tăng, giá trị đồng nội tệ có xu hướng tăng theo, tỷ giá sẽ giảm. Tuy nhiên, việc có điều chỉnh lãi suất hay không cần được đặt trong bối cảnh và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam ở từng thời điểm.

Tổng Giám đốc của AFA Capital phân tích, năm 2022, ưu tiên của Việt Nam là kiểm soát lạm phát, do đó, phải tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát và ổn định tỷ giá.

Với năm 2026, mục tiêu chính sách tiền tệ của Mỹ và Việt Nam có sự khác biệt. Mỹ tập trung vào kiểm soát lạm phát, trong khi Việt Nam ưu tiên mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số hơn, hoàn toàn khác năm 2022.

Ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cũng cho rằng, cơ quan quản lý đã chuẩn bị cho nhiều kịch bản khác nhau. Áp lực lên tỷ giá USD/VND trong năm nay chắc chắn đã được tính toán từ sớm.

Chuyên gia UOB phân tích, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP cao, kéo theo nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ đầu tư công, đầu tư cơ sở hạ tầng lớn. Cùng với khả năng Fed tăng lãi suất, đây là những yếu tố cơ quan quản lý cần tính đến trong điều hành tỷ giá.

“Một trong những công cụ đã sử dụng mang tính chất quyết định, đó chính là lãi suất tiền VND” - ông Quang nhấn mạnh.

Theo đó, từ quý IV/2025, lãi suất VND tăng rõ rệt. “Chênh lệch lãi suất giữa VND và USD ở mức đủ hấp dẫn để nhà đầu tư cá nhân, các doanh nghiệp có nguồn thu từ xuất khẩu bằng USD không còn nhiều kỳ vọng vào việc nắm giữ hay đầu cơ USD” - chuyên gia UOB đánh giá.

Tuy nhiên, chuyên gia UOB lưu ý rằng, lãi suất USD tăng vẫn sẽ gây áp lực lên cơ quan quản lý, đồng thời làm tăng chi phí vốn, đặc biệt với doanh nghiệp vay ngoại tệ, đòi hỏi chủ động các phương án phòng ngừa, ứng phó.

Chủ động phòng vệ trước sức ép, “nắn” dòng ngoại tệ về kênh chính thức

Tổng Giám đốc của AFA Capital cũng nhấn mạnh sự chủ động của Ngân hàng Nhà nước trong việc tạo dư địa phòng vệ trước những biến động của tỷ giá.

Gần đây, Ngân hàng Nhà nước liên tục tăng tỷ giá trung tâm, lên 25.641 đồng vào ngày 25/9, cao hơn 520 đồng, tương đương 2,07% so với đầu năm. Với biên độ 5%, trần tỷ giá các ngân hàng thương mại được phép niêm yết tiến gần 27.000 VND/USD.

Điều này tạo thêm dư địa để tỷ giá linh hoạt hấp thụ các biến động từ bên ngoài, trong khi Ngân hàng Nhà nước vẫn có thể chủ động bán USD cho các ngân hàng thương mại khi cần thiết để bổ sung nguồn cung ngoại tệ và giảm áp lực lên tỷ giá.

Ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho biết thêm, tỷ giá giao dịch trên thị trường không chính thức hiện còn thấp hơn tỷ giá tại các ngân hàng. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều khách hàng cá nhân không còn mang ngoại tệ ra thị trường không chính thức để giao dịch mà chuyển sang bán, chuyển đổi ngoại tệ tại ngân hàng.

Ngoài ra, việc đưa các giao dịch tiền điện tử về các sàn trong nước, cùng với thu hẹp chênh lệch giá vàng trong nước và thế giới, cũng hạn chế dòng ngoại tệ chảy ra và giảm động cơ đầu cơ các tài sản này. Từ nhiều giải pháp cùng triển khai, thị trường hoàn toàn có khả năng bù đắp mức thâm hụt thương mại 20 tỷ USD.

Việt Nam cũng tính huy động USD trên thị trường quốc tế, từ đó, giúp tăng dự trữ ngoại hối. Khi có thể huy động thêm nguồn lực USD từ doanh nghiệp và người dân, đây cũng sẽ là nguồn lực hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

Giá vàng hôm nay ngày 27/9: Giá vàng thế giới và trong nước ít biến động

(TBTCO) - Vàng thế giới gần như đi ngang ở mức 4.284 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, vàng nhẫn giảm nhẹ tại một số doanh nghiệp.
Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

Vietcombank khánh thành nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ, tiếp sức học sinh vùng cao Sơn La

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, tại điểm trường Po Mậu, Trường Tiểu học Co Mạ, xã Co Mạ, tỉnh Sơn La, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) và UBND xã Co Mạ tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà bán trú Trường Tiểu học Co Mạ. Công trình có tổng mức đầu tư 2 tỷ đồng do Vietcombank phối hợp với UBCKNN tài trợ, góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt, học tập cho học sinh vùng cao.
Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,400 ▼2000K 142,400 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 13,940 ▼200K 14,240 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,890 ▼200K 14,290 ▼200K
NL 99.99 13,400 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300 ▼150K
Trang sức 99.9 13,600 ▼200K 14,200 ▼200K
Trang sức 99.99 13,610 ▼200K 14,210 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,394 ▼20K 14,242 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,394 ▼20K 14,243 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,389 ▼20K 1,419 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,389 ▼20K 142 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,364 ▼20K 1,409 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,505 ▼1980K 139,505 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,036 ▼1500K 105,836 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,172 ▼1360K 95,972 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,308 ▼1220K 86,108 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,503 ▼1166K 82,303 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,111 ▼834K 58,911 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,394 ▼20K 1,424 ▼20K
Cập nhật: 28/09/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17682 17955 18530
CAD 17807 18081 18698
CHF 30615 30991 31629
CNY 0 3824 3920
EUR 28899 29118 30198
GBP 33572 33960 34894
HKD 0 3180 3382
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14393 14978
SGD 19765 20047 20616
THB 688 752 805
USD (1,2) 25703 0 0
USD (5,10,20) 25742 0 0
USD (50,100) 25770 25784 26151
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 28,956 28,979 30,283
JPY 160.33 160.62 170.33
GBP 33,793 33,884 35,071
AUD 17,875 17,940 18,621
CAD 17,993 18,051 18,718
CHF 30,872 30,968 31,881
SGD 19,886 19,948 20,730
CNY - 3,793 3,939
HKD 3,243 3,253 3,390
KRW 17.58 18.33 19.95
THB 737.12 746.22 798.53
NZD 14,380 14,514 14,942
SEK - 2,567 2,657
DKK - 3,884 4,021
NOK - 2,680 2,777
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,941.4 - 6,707.09
TWD 737.55 - 893.59
SAR - 6,799.53 7,162.51
KWD - 82,113 87,377
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,026 29,143 30,351
GBP 33,769 33,905 34,924
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,786 30,910 31,841
JPY 160.68 161.33 169.31
AUD 17,884 17,956 18,548
SGD 19,966 20,046 20,637
THB 757 760 797
CAD 18,022 18,094 18,682
NZD 14,458 14,997
KRW 18.31 20.30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26150
AUD 17869 17969 18894
CAD 17993 18093 19107
CHF 30825 30855 32441
CNY 3807.6 3832.6 3967.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29089 29119 30842
GBP 33861 33911 35666
HKD 0 3315 0
JPY 161.17 161.67 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14503 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19917 20047 20778
THB 0 717.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14100000 14100000 14370000
SBJ 13000000 13000000 14370000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,670 25,790 26,180
USD20 25,640 25,790 26,180
USD1 25,633 25,790 26,180
AUD 17,892 18,042 19,181
EUR 28,866 29,016 30,717
CAD 17,903 18,053 19,382
SGD 19,965 20,165 20,751
JPY 161.38 162.88 168.64
GBP 33,703 33,903 35,027
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/09/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30