Nắm cơ hội phía trước, ngân hàng lên kế hoạch nâng sức vốn

(TBTCO) - Cơ hội rộng mở phía trước, cả từ chuyển động nhiều năm qua cũng như những diễn biến tiềm năng. Vấn đề còn lại, ngân hàng nào thực sự nắm được và duy trì được nhịp độ của hiệu quả?
aa

Mùa đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) các ngân hàng thương mại (NHTM) năm nay đang gợi mở những kế hoạch sôi động: Hầu hết các thành viên đều tiếp tục lên kế hoạch tăng vốn điều lệ, thông tin về các kế hoạch sáp nhập hoặc nhận chuyển giao ngân hàng tiếp tục được chú ý.

Cả hai dòng chảy trên đều sẽ góp phần định hình bức tranh và xu hướng hoạt động ngân hàng tại Việt Nam, làm đậm nét hơn một đặc điểm: Cơ hội từ hữu hạn trước “vô hạn”; số lượng ngân hàng không tăng lên và thậm chí giảm đi, trong khi quy mô thị trường và nền kinh tế không ngừng mở rộng.

Cơ hội không dành cho tất cả

Cuối năm 2011, hệ thống các NHTM của Việt Nam có tổng 42 thành viên, gồm 5 NHTM nhà nước và 37 NHTM cổ phần. Từ năm 2012, bắt đầu thực hiện tái cơ cấu, số lượng NHTM giảm dần qua hợp nhất, sáp nhập, hoặc Ngân hàng Nhà nước mua lại bắt buộc những năm sau đó.

Cũng từ giai đoạn đó đến nay, Việt Nam không có NHTM được thành lập mới hoàn toàn. Qua quá trình tái cơ cấu, hiện toàn hệ thống chỉ còn 35 NHTM, gồm 4 NHTM nhà nước, 3 ngân hàng mua lại bắt buộc và 28 NHTM cổ phần.

Nắm cơ hội phía trước, ngân hàng lên kế hoạch nâng sức vốn
Nắm cơ hội phía trước, ngân hàng lên kế hoạch nâng sức vốn.

Số lượng trên trở nên hữu hạn, giảm dần qua tái cơ cấu, dự kiến tiếp tục giảm thêm. Trong khi đó, quy mô của nền kinh tế liên tục tăng trưởng qua các năm, không ngừng mở rộng. Trong điều kiện thị trường vốn chưa phát triển mạnh, thậm chí bộc lộ khó khăn và có phần thu hẹp lại như ở kênh trái phiếu doanh nghiệp vừa qua, một phần quan trọng của sức đỡ và động lực cho quy mô nền kinh tế mở rộng tập trung vào hệ thống NHTM.

Khi số lượng NHTM không những không tăng lên mà còn giảm đi, vai trò của động lực trên càng mở rộng hơn đối với mỗi nhà băng hiện nay. Điều này cũng đồng nghĩa quy mô hoạt động kinh doanh càng mở rộng theo quy mô tăng trưởng của nền kinh tế. Để nắm bắt cơ hội, cũng như giữ được vai trò động lực cho tăng trưởng kinh tế, ít nhất qua phát triển tín dụng, các nhà băng buộc phải tăng vốn.

Nhưng cơ hội không mở rộng cho tất cả. Thực tế nhiều năm qua nhiều NHTM đã không thể tăng được vốn điều lệ, với những nguyên do khác nhau. Ngược lại, những thành viên khác đều đặn nâng sức vốn để mở rộng thị phần, qua vị thế quy mô tổng tài sản không ngừng tăng lên cùng quy mô lợi nhuận.

Diễn biến trên cũng phản ánh rõ trong dữ liệu thống kê định kỳ của Ngân hàng Nhà nước công bố. Một điểm liên quan được chú ý, bên cạnh việc khó nắm bắt được cơ hội gia tăng thị phần và quy mô, những NHTM không hoặc khó tăng vốn điều lệ còn gặp trở ngại trong yêu cầu đáp ứng đủ vốn, khi mà hệ thống đã tiến tới áp dụng Basel II.

Cụ thể, dữ liệu thống kê của Ngân hàng Nhà nước từ năm 2020 đến nay vẫn tách rõ hai “hạng mục”: Nhóm NHTM đều đặn tăng vốn và đáp ứng yêu cầu đủ vốn theo Basel II (theo Thông tư 41 của Ngân hàng Nhà nước) và nhóm vẫn đang phải tính yêu cầu đủ vốn ở cấp độ thấp hơn (theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước).

Nói cách khác, những thành viên đều đặn tăng được vốn điều lệ sẽ có bộ đệm an toàn vốn dày dặn hơn, có sức nâng tăng trưởng tín dụng cao hơn để mở rộng thị phần, cũng như có điều kiện để đẩy mạnh hơn nguồn lực đầu tư, đặc biệt là cho công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong xu thế mạnh mẽ những năm gần đây và hiện nay.

Chuyển hóa cơ hội thành hiệu quả, nhìn từ SHB

Nhìn lại quá trình tái cơ cấu và phát triển hệ thống nói trên, Ngân hàng Sài Gòn - Hà Nội (SHB) là trường hợp khá đặc biệt, vừa tiên phong tham gia tái cơ cấu hệ thống qua sáp nhập ngân hàng khác, vừa đều đặn tăng được vốn điều lệ suốt những năm qua để nắm bắt các cơ hội.

Đều đặn chi trả cổ tức cho cổ đông và nâng sức vốn, đến cuối năm 2022 quy mô vốn điều lệ của SHB đã ở Top 5 NHTM cổ phần lớn nhất. Đi cùng, thị phần thể hiện qua quy mô tổng tài sản của ngân hàng này cũng đã ở Top 10 các NHTM hàng đầu Việt Nam. Giá trị thương hiệu cũng liên tiếp góp mặt và tăng hạng ấn tượng trong Top 500 thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới…

Năm 2023, theo kế hoạch dự kiến, SHB tiếp tục đặt mục tiêu tăng mạnh vốn điều lệ lên hơn 36.600 tỷ đồng; trong đó, tỷ lệ chi trả cổ tức cho năm 2022 dự kiến đạt tới 18%, cao nhất những năm qua. Cùng với kế hoạch này, SHB dự kiến cũng sẽ sớm hoàn tất việc chuyển nhượng 50% cổ phần đợt đầu tại SHB Finance cho Ngân hàng Krungsri (Thái Lan) để mang lại thặng dư đáng kể cho cổ đông.

Tăng vốn thành công, SHB sẽ có thêm sức nâng vốn để nắm cơ hội mở rộng phía trước như đề cập ở trên. Nhưng, quan trọng hơn, cơ hội đó được chuyển hóa rõ rệt vào hiệu quả hoạt động.

Theo báo cáo kết quả kinh doanh năm 2022 và chỉ tiêu kế hoạch 2023, SHB tiếp tục khẳng định vị trí hàng đầu ở Top 10 hiệu quả nhất toàn hệ thống NHTM Việt Nam, với tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt trên 20%. Cũng như tỷ lệ cổ tức, sức sinh lời này cao hơn nhiều lần so với lãi suất tiết kiệm - một so sánh cơ bản nhất, đặc biệt trong bối cảnh các kênh đầu tư trở nên khó khăn và thậm chí tiềm ẩn rủi ro.

Cùng đó, với vốn điều lệ gia tăng, bộ đệm tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của SHB dự kiến sẽ duy trì trên 12% theo chuẩn Basel II, cao hơn nhiều so với mức tối thiểu Ngân hàng Nhà nước quy định (8%). Và đáng chú ý, bên cạnh chỉ số ROE ở mức cao, SHB đang sở hữu chỉ số hiệu quả vận hành hàng đầu thị trường khi tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) chỉ 22,7% năm qua, cũng như đặt mục tiêu giữ ổn định trong năm nay.

Mục tiêu giữ ổn định CIR là một điểm được chú ý tại SHB, trong một năm nhiều kế hoạch đầu tư cho các yếu tố nền tảng đã được xác định. Cụ thể, theo chia sẻ của một lãnh đạo chuyên trách mới đây, trong năm 2023 SHB sẽ triển khai hơn loạt dự án trong lĩnh vực công nghệ thông tin và chuyển đổi số, cùng với việc đầu tư mở mới 5 chi nhánh và 25 phòng giao dịch./.

Tài Tâm

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80