Ngân hàng thận trọng trước rủi ro nợ xấu có thể gia tăng

Chí Tín
(TBTCO) - Đầu năm 2023, nợ xấu có chiều hướng tăng so với năm 2022 và đây là một trong những yếu tố khiến các ngân hàng vẫn phải thận trọng sàng lọc đối tượng khách hàng vay, cũng như thực hiện biện pháp dự phòng rủi ro trong thời gian tới.
aa
Ngân hàng thận trọng trước rủi ro nợ xấu có thể gia tăng

Nguy cơ nợ xấu gia tăng

Theo số liệu của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), đến cuối tháng 2/2023, tỷ lệ nợ xấu nội bảng là 2,91% (tăng so với mức 2,6% vào cuối năm 2016; mức 1,49% vào cuối năm 2021 và mức 2% vào cuối năm 2022).

Đánh giá chung về bối cảnh hiện nay, VNBA cho biết, các doanh nghiệp vay vốn gặp nhiều khó khăn, nên khả năng hấp thụ vốn thấp, dẫn đến tín dụng tăng trưởng chậm lại. Tính đến cuối tháng 4/2023, tín dụng toàn nền kinh tế tăng hơn 12 triệu tỷ đồng, tương đương tăng 3,05% so với cuối năm 2022 và tăng 9,78% so với cùng kỳ. Đây là tốc độ tăng trưởng còn thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2023 khoảng 14-15%.

Hiện nay, tỷ lệ nợ xấu nội bảng được kiểm soát ở mức dưới 3%, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất là một số khoản nợ về nguyên tắc đã trở thành nợ xấu song do được cơ cấu nợ giữ nguyên nhóm nợ, các khoản phải thu khó đòi, lãi dự thu phải thoái...

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký VNBA cho biết, vấn đề kiểm soát nợ xấu của ngân hàng gặp nhiều khó khăn do hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay tiếp tục gặp khó khăn, giảm nguồn thu và khả năng trả nợ, nguy cơ phát sinh nợ xấu.

Trong khi đó, việc bán tài sản bảo đảm, đặc biệt là các khoản nợ lớn cần tổ chức bán nợ theo giá thị trường khó thực hiện trong điều kiện thị trường bất động sản đóng băng. Hiện nay, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã từng bước phục hồi sản xuất, kinh doanh, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn chưa đủ khả năng trả nợ các khoản nợ đã được cơ cấu lại và khoản nợ đến hạn gây ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

TS. Cấn Văn Lực, Kinh tế gia trưởng Ngân hàng BIDV cho rằng, mặc dù Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các bộ, ngành đã rất chủ động, quyết liệt ban hành các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng dự báo nợ xấu vẫn có thể còn tăng trong năm 2023 khi rủi ro tín dụng gia tăng bởi khách hàng phải chịu tác động cộng hưởng từ những rủi ro.

Những rủi ro bao gồm ảnh hưởng còn lại từ Covid-19, khó khăn trên thị trường bất động sản, đi cùng với tình hình kinh tế trong nước và quốc tế khó khăn và mặt bằng lãi suất còn ở mức cao…

Thái độ thận trọng của ngân hàng

Bối cảnh khó khăn của doanh nghiệp và nền kinh tế đang phần nào ảnh hưởng đến các ngân hàng và theo đó, các ngân hàng cũng đang phải đối diện với việc tự kiểm soát rủi ro và thái độ với các khoản vay mới vì thế cũng vẫn phải thận trọng để tránh phát sinh những khoản nợ xấu tiềm ẩn mới trong tương lai.

Theo thông tin chia sẻ mới đây của NHNN về hoạt động điều hành chính sách tiền tệ, trên cơ sở điều hành và chỉ đạo của NHNN; đến nay, về cơ bản mặt bằng lãi suất đã ổn định, lãi suất phát sinh mới có xu hướng giảm dần trong tháng đầu năm 2023.

Lãi suất tiền gửi bình quân phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức khoảng 6,3%/năm (giảm 0,18%/năm so với cuối năm 2022). Lãi suất cho vay bình quân bằng đồng Việt Nam phát sinh mới của các ngân hàng thương mại ở mức khoảng 9,3%/năm (giảm 0,65%/năm so với cuối năm 2022).

Tuy nhiên, NHNN cũng thừa nhận mặt bằng lãi suất vẫn còn cao do kinh tế Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào nguồn vốn tín dụng ngân hàng (tỷ lệ tín dụng/GDP cuối năm 2022 ở mức 125,34%), trong khi nhu cầu vốn để phát triển kinh tế luôn ở mức cao, tạo áp lực lên lãi suất cho vay. Mặt bằng lãi suất thế giới tăng trong năm 2022 và vẫn ở mức cao trong các tháng đầu năm 2023.

Trong khi đó, việc thực hiện tái cơ cấu nợ cũng được các ngân hàng triển khai thận trọng. Thông tư số 02/2023/TT-NHNN mới ban hành cuối tháng 4/2023 cho phép cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ khách hàng gặp khó khăn, theo đó ngân hàng chưa thu nợ khi đến hạn.

Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn phải đảm bảo chi trả tiền gửi, làm giảm doanh số cho vay và chậm lại vòng quay vốn trong nền kinh tế và việc này cũng gây áp lực trở lại lên khả năng cân đối vốn và dư địa giảm lãi suất.

NHNN cũng cho biết, hiện tại hệ thống ngân hàng vẫn đang trong quá trình tái cơ cấu và xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng, nâng cấp chuẩn mực quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế… Áp lực lạm phát hiện hữu, tiểm ẩn, khiến người dân kỳ vọng lãi suất thực dương nên tổ chức tín dụng khó giảm lãi suất để đảm bảo khả năng thu hút tiền gửi, khiến chi phí đầu vào của ngân hàng ở mức cao.

Theo số liệu của NHNN, huy động vốn đến cuối tháng 4/2023 chỉ tăng 1,78%, tốc độ tăng trưởng này mới chỉ bằng gần 50% so với tốc độ tăng trưởng tín dụng. Đây cũng là một con số cho thấy ngân hàng cũng chưa thể cho vay ra mạnh tay vì còn phải cân đối các yếu tố nguồn vốn đầu vào, đầu ra.

Ngân hàng vẫn phải thực hiện các biện pháp dự phòng rủi ro

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết, việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ là để hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng. Tuy nhiên, các ngân hàng vẫn phải đánh giá, phân loại, cũng như trích lập dự phòng theo nhóm nợ thực tế của khách hàng.

Theo quy định tại Thông tư 02, các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng tối thiểu 50% trong năm 2023 và 100% trong năm 2024. Ngoài ra, các ngân hàng cũng như tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong quá trình triển khai thực hiện chính sách.

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Kim TT/AVPL 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Nguyên Liệu 99.99 13,050 ▼800K 13,250 ▼800K
Nguyên Liệu 99.9 13,000 ▼800K 13,200 ▼800K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▼750K 14,200 ▼750K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▼750K 14,150 ▼750K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▼750K 14,130 ▼750K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Nghệ An 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Thái Bình 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
NL 99.90 13,050 ▼700K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼700K
Trang sức 99.9 13,840 ▼480K 14,540 ▼480K
Trang sức 99.99 13,850 ▼480K 14,550 ▼480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,437 ▼51K 14,672 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,437 ▼51K 14,673 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,436 ▼51K 1,466 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,436 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▼51K 1,451 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼4555K 143,663 ▼4555K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▼3450K 108,986 ▼3450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,328 ▼3128K 98,828 ▼3128K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,917 ▼74059K 8,867 ▼82609K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,252 ▼2682K 84,752 ▼2682K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,163 ▼1918K 60,663 ▼1918K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cập nhật: 19/06/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17927 18202 18775
CAD 18079 18354 18966
CHF 31993 32375 33017
CNY 0 3846 3939
EUR 29535 29756 30834
GBP 34011 34401 35332
HKD 0 3226 3428
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14791 15379
SGD 19834 20116 20688
THB 717 780 833
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26440
AUD 18094 18194 19117
CAD 18258 18358 19373
CHF 32272 32302 33888
CNY 3829.2 3854.2 3990
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29703 29733 31461
GBP 34240 34290 36050
HKD 0 3355 0
JPY 159.86 160.36 170.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14929 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20009 20139 20867
THB 0 747.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14800000
SBJ 13500000 13500000 14800000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,440
USD20 26,156 26,206 26,440
USD1 26,156 26,206 26,440
AUD 18,160 18,260 19,365
EUR 29,859 29,859 31,270
CAD 18,214 18,314 19,623
SGD 20,090 20,240 20,801
JPY 160.32 161.82 166.36
GBP 34,158 34,508 35,615
XAU 14,478,000 0 14,782,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/06/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80