Sau Nghị quyết 42: Khách hàng chủ động trả nợ xấu nhiều hơn

Hoàng Yến
Sau khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ các tổ chức tín dụng, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý.
aa

NX

Ảnh: T.L

Đã xử lý gần 294.000 tỷ đồng nợ xấu theo Nghị quyết 42

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, lũy kế từ ngày 15/8/2017 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đã xử lý được 293,88 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết số 42. Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 160,92 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,76%. Xử lý các khoản nợ đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác định theo Nghị quyết số 42 là 67,28 nghìn tỷ đồng, chiếm 22,89%. Xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 đã bán cho Công ty quản lý tài sản các TCTD Việt Nam (VAMC) được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 65,68 nghìn tỷ đồng, chiếm 22,35%.

Tổng số nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 được xử lý từ 15/8/2017 đến 31/5/2020 đạt trung bình khoảng 7,15 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn 3,63 nghìn tỷ đồng/tháng so với kết quả xử lý nợ xấu nội bảng trung bình tháng từ năm 2012 - 2017 của hệ thống các TCTD trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực (khoảng 3,52 nghìn tỷ đồng/tháng).

Trước khi có Nghị quyết 42, nợ xấu của toàn hệ thống các TCTD chủ yếu được xử lý bằng dự phòng rủi ro, các biện pháp xử lý nợ xấu thông qua tài sản đảm bảo và khách hàng trả nợ còn chưa cao. Tuy nhiên, kể từ khi Nghị quyết 42 có hiệu lực, xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng trả nợ là 121,4 nghìn tỷ đồng (chiếm khoảng 40,1% tổng nợ xấu nội bảng theo Nghị quyết 42 đã xử lý), cao hơn nhiều tỷ trọng nợ xấu được xử lý do khách hàng tự trả nợ/tổng nợ xấu nội bảng đã xử lý trung bình năm từ 2012 - 2017 là khoảng 22,8%.

Theo báo cáo, kết quả xử lý nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42 bằng hình thức khách hàng trả nợ tăng mạnh, phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện. Khách hàng chủ động và hợp tác hơn trong việc trả nợ các TCTD, hạn chế tình trạng chủ tài sản cố ý chây ỳ, chống đối nhằm kéo dài thời gian xử lý. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Nhìn chung, Nghị quyết 42 đã tạo cơ chế xử lý đồng bộ, thống nhất, hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ xấu và xử lý tài sản đảm bảo các khoản nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Các quy định tại Nghị quyết 42 đã được các TCTD, VAMC áp dụng có hiệu quả bước đầu trên thực tế, đảm bảo các TCTD tiếp tục phát huy tốt vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo và đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.

Xử lý tài sản đảm bảo vẫn còn nhiều điểm vướng

Tuy nhiên, báo cáo trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết quá trình triển khai Nghị quyết số 42 còn cho thấy một số khó khăn, vướng mắc trên thực tế cần sự phối hợp của các bộ, ban, ngành có liên quan xử lý, để các chính sách, giải pháp của Nghị quyết 42 được áp dụng hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cũng đánh giá dịch bệnh Covid-19 hiện nay đang tác động trực tiếp đến tình hình hoạt động, chất lượng tài sản và kết quả kinh doanh của các TCTD. Dự báo dịch bệnh còn diễn biến phức tạp, khó lường và ảnh hưởng bất lợi đến kinh tế xã hội nói chung cũng như kết quả xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42.

Để đảm bảo công tác xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 được triển khai có hiệu quả thời gian tới, giải pháp cần thiết là giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc về cơ chế cũng như trong thực tế áp dụng Nghị quyết 42. Trong đó bao gồm những khó khăn cụ thể liên quan đến công tác triển khai, hướng dẫn từ các bộ, ngành, địa phương; việc bán nợ xấu và tài sản đảm bảo theo giá trị thị trường; phát triển thị trường mua bán nợ; cơ chế tiếp cận thông tin về tình trạng tài sản bảo đảm; quyền thu giữ tài sản đảm bảo; áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản đảm bảo và xử lý tài sản đảm bảo; đăng ký thay đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản đảm bảo của khoản nợ; điều kiện chuyển nhượng tài sản đảm bảo và dự án bất động sản; việc thực hiện thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản đảm bảo và việc nộp thuế khi chuyển nhượng tài sản đảm bảo; việc hoàn trả tài sản đảm bảo là vật chứng trong vụ án hình sự….

Tính từ cuối năm 2018 đến 31/5/2020, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 361,2 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 307,96 nghìn tỷ đồng (chiếm 85,26%). Nợ xấu bán cho VAMC là 48,52 nghìn tỷ đồng (chiếm 13,43%); nợ xấu bán cho tổ chức, cá nhân khác là 4,72 nghìn tỷ đồng (chiếm 1,3%).

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18005 18280 18864
CAD 18164 18440 19057
CHF 31134 31512 32167
CNY 0 3832 3928
EUR 29367 29588 30669
GBP 34257 34648 35596
HKD 0 3184 3387
JPY 161 164 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14673 15263
SGD 19909 20191 20763
THB 697 760 814
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 29,406 29,430 30,827
JPY 163.41 163.7 173.6
GBP 34,432 34,525 35,733
AUD 18,195 18,261 18,959
CAD 18,341 18,400 19,077
CHF 31,383 31,481 32,417
SGD 20,026 20,088 20,876
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.77 18.53 20.17
THB 745.9 755.11 808.52
NZD 14,674 14,810 15,252
SEK - 2,616 2,709
DKK - 3,944 4,083
NOK - 2,738 2,836
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,961.33 - 6,728.7
TWD 739.82 - 896.33
SAR - 6,801.36 7,164.36
KWD - 82,391 87,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 29,444 29,562 30,759
GBP 34,455 34,593 35,622
HKD 3,246 3,259 3,375
CHF 31,251 31,377 32,313
JPY 163.96 164.62 172.60
AUD 18,204 18,277 18,871
SGD 20,100 20,181 20,774
THB 763 766 802
CAD 18,355 18,429 19,019
NZD 14,765 15,305
KRW 18.43 20.39
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26165
AUD 18183 18283 19208
CAD 18334 18434 19448
CHF 31371 31401 32982
CNY 3812.9 3837.9 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29544 29574 31299
GBP 34558 34608 36376
HKD 0 3305 0
JPY 164.54 165.04 175.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14805 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20919
THB 0 726.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30