Sớm xây dựng cơ chế đặc thù gỡ vướng cho các chương trình mục tiêu quốc gia

Hoàng Yến
(TBTCO) - Tại Nghị quyết giám sát chuyên đề việc triển khai 3 chương trình mục tiêu quốc gia được thông qua tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội đã chỉ ra một số hạn chế, tồn tại trong việc triển khai các chương trình và yêu cầu Chính phủ sớm xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù, trình Quốc hội ban hành để tháo gỡ các vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ triển khai. Xung quanh vấn đề này, đại biểu Lâm Văn Đoan - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Xã hội của Quốc hội đã có cuộc trao đổi với báo chí để làm rõ thêm một số nội dung.
aa
Sớm xây dựng cơ chế đặc thù gỡ vướng cho các chương trình mục tiêu quốc gia
Diện mạo nông thôn của huyện miền núi Nậm Nhùn (Lai Châu) đã có nhiều đổi mới. Ảnh: TL

PV: Thưa ông, một trong những vướng mắc hiện nay trong quá trình triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) là có quá nhiều văn bản, nhiều dự án, gây khó khăn cho các địa phương khi thực hiện. Vậy cần cơ chế gì để gỡ vướng mắc này?

Sớm xây dựng cơ chế đặc thù gỡ vướng cho các chương trình mục tiêu quốc gia

Đại biểu Lâm Văn Đoan: Đây là câu hỏi rất hay, nhưng nên được đặt ra vào thời điểm Chính phủ xây dựng trình Quốc hội các nghị quyết về ban hành các CTMTQG. Cụ thể như là với chương trình phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thì phải xem xét vấn đề này từ năm 2020 khi Quốc hội ban hành Nghị quyết 120, với chương trình giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới thì vào năm 2021.

Còn hiện nay, Chính phủ cần chủ động rà soát, ban hành các văn bản theo thẩm quyền để xử lý các bất cập, vướng mắc. Quan trọng hơn là trong việc thực hiện các CTMTQG giai đoạn tới, cần sớm rà soát chính sách, khắc phục chồng chéo, bởi có nhiều vướng mắc đã tồn tại các giai đoạn trước. Việc này phải làm từ sớm và không thể làm gấp gáp được. Tôi cho rằng trong việc thực hiện các CTMTQG giai đoạn 2026 - 2030, tình trạng này sẽ giảm.

PV: Trong Nghị quyết của Quốc hội có nêu một cơ chế đặc thù là thí điểm phân cấp cho cấp huyện quyết định danh mục, cơ cấu, phân bổ vốn ngân sách. Tuy nhiên, với danh mục hàng nghìn tiểu dự án của các chương trình, lại có sự trùng lắp về đối tượng, cấp huyện cũng sẽ rất lúng túng trong thực hiện. Ông đánh giá thế nào về điều này?

Đại biểu Lâm Văn Đoan: Việc thí điểm bao giờ cũng mang tính mới, đột phá, nếu giữ nguyên cách hành xử, phản ứng chính sách như thông thường thì khó có đột phá. Chắc chắn có những huyện sẽ rất vui mừng đón nhận bởi họ có đủ năng lực, bộ máy... Nhưng cũng có những huyện sẽ lo lắng bởi đội ngũ cán bộ còn hạn chế nhất định, năng lực xây dựng chính sách còn bất cập, hệ thống chính sách pháp luật lại quá phức tạp. Bản thân đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cũng chưa quen với việc có CTMTQG riêng với hệ thống chính sách trải khắp liên quan đến vùng dân tộc như vậy. Đây rõ ràng là áp lực rất là lớn từ trung ương đến chính địa phương.

Tuy nhiên, cái gì khởi đầu cũng đều khó khăn, nếu chúng ta quyết tâm thực hiện, rút kinh nghiệm dần, đồng thời trong quá trình triển khai đánh giá, kiểm tra thường xuyên thì có thể vượt qua khó khăn ban đầu để có những đột phá mới. Nếu chúng ta triển khai sớm cơ chế thí điểm này, thì có thể coi đây là một đột phá quan trọng cho các chương trình giai đoạn tới trong việc phân cấp, phân quyền.

Triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 - ảnh 1
PV: Như ông nói, đây là sự thí điểm mang tính đột phá về phân cấp, phân quyền, song cũng có địa phương thì phù hợp, có địa phương chưa đáp ứng được. Vậy nên hướng dẫn thế nào để các địa phương triển khai hiệu quả, thưa ông?

Đại biểu Lâm Văn Đoan: Khi thí điểm chính sách này, tôi cho rằng nên cho các địa phương cơ chế lựa chọn, huyện nào đủ điều kiện, đủ năng lực thì triển khai. Bởi đây là chính sách mới, nếu áp dụng rộng rãi ở nhiều huyện chưa có đủ khả năng thì sẽ bất cập. Cơ chế thí điểm cần phải có quá trình tổng kết, đánh giá thì mới áp dụng phổ biến được. Đây cũng là việc phân cấp, phân quyền một cách phù hợp, chứ nếu phân cấp, phân quyền một cách áp đặt, đồng loạt thì sẽ không hiệu quả.

PV: Theo ông, có nên gom các dự án có sự trùng lắp về đối tượng để triển khai hiệu quả hơn? Bởi thực tế hiện có nhiều dự án trùng đối tượng, có những dự án thiếu tiền, có dự án thừa tiền nhưng không có đối tượng để tiêu.

Đại biểu Lâm Văn Đoan: Đúng là trong giám sát các CTMTQG vừa qua, có hiện tượng nơi thiếu tiền, nơi thừa tiền. Trước mắt, việc quan trọng nhất để khắc phục tình trạng này là Chính phủ, các địa phương cần phải rà soát lại kỹ xem việc thừa tiền xảy ra ở dự án nào và nguyên nhân thừa là gì.

Nếu nguyên nhân thừa là do không có đối tượng vẫn được cấp tiền, thì rõ ràng quá trình lập kế hoạch của địa phương có vấn đề. Còn nếu dự án thừa tiền là do cơ chế chính sách của trung ương có bất cập, thì phải sửa chính sách để tiêu tiền. Hoặc có các chương trình, dự án, tiểu dự án mà bỏ lọt đối tượng thì cũng phải rà soát lại để cấp tiền. Từ việc phân loại rõ từng nguyên nhân trong từng dự án như vậy thì mới giải quyết được câu chuyện thừa tiền hay thiếu tiền.

PV: Từ những thực tế này, theo ông việc thực hiện các CTMTQG trong giai đoạn 2026 - 2030 nên rút kinh nghiệm điều gì?

Đại biểu Lâm Văn Đoan: Các vấn đề mà phóng viên đề cập ở trên đều cho thấy, việc cần thiết phải xác định số lượng các CTMTQG hợp lý, phù hợp với nguồn lực. Đồng thời, phải có sự liên kết giữa chính sách trong từng chương trình, cũng như giữa các chương trình với nhau, một hệ thống liên kết chính sách theo cả chiều ngang và chiều dọc để tạo sự đồng bộ, thống nhất. Điều này bắt đầu từ việc xác định số lượng các CTMTQG của giai đoạn tới là bao nhiêu, ở lĩnh vực nào theo từng mục tiêu ưu tiên. Từ một tổng thể như vậy, chúng ta sẽ xây dựng hệ thống chính sách đầy đủ và nguồn lực khả thi.

Còn hiện nay, nguồn lực đang đi theo từng chương trình, các chương trình khác nhau, nguồn lực khác nhau dẫn tới sự phân tán trong chính sách. Bên cạnh đó, mỗi chương trình lại do một bộ, cơ quan quản lý. Như vậy, vấn đề đầu tiên là phải sắp xếp cả về tổ chức quản lý chương trình cũng như thiết kế, số lượng các chương trình, theo mục tiêu phát triển phù hợp.

PV: Xin cảm ơn ông.

Xây dựng cơ chế đặc thù cho các chương trình mục tiêu quốc gia

Tại Nghị quyết giám sát chuyên đề "Việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Quốc hội về các CTMTQG: Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025, giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021 - 2025, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030", Quốc hội đánh giá việc thực hiện các CTMTQG đã kế thừa, phát huy những thành tựu xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số của giai đoạn trước.

Đến nay, công tác tổ chức thực hiện các chương trình đã đạt được một số kết quả nhất định, bám sát mục tiêu, nguyên tắc, nhiệm vụ, yêu cầu đổi mới về cơ chế, chính sách quản lý trong các nghị quyết của Quốc hội…

Để tiếp tục triển khai hiệu quả, đẩy nhanh tiến độ các chương trình, Quốc hội cho phép số vốn ngân sách nhà nước năm 2022 (bao gồm cả vốn năm 2021 được chuyển nguồn sang năm 2022) chưa thực hiện giải ngân hết trong năm 2023 được kéo dài thực hiện sang năm 2024.

Đồng thời, giao Chính phủ khẩn trương xây dựng dự thảo nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc thù để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các CTMTQG để trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất theo trình tự, thủ tục rút gọn. Trong đó, có cơ chế thí điểm phân cấp cho cấp huyện quyết định danh mục, cơ cấu, phân bổ sử dụng vốn ngân sách nhà nước; xử lý một số kiến nghị của địa phương liên quan đến việc thực hiện kết luận kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước đối với việc thu hồi kinh phí, hoàn trả ngân sách nhà nước trong triển khai thực hiện các CTMTQG.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55 - 58% GDP; Việt Nam có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Hà Nội - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Miền Tây - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,200 ▲200K 170,200 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Nghệ An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
Miếng SJC Thái Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,000 ▲280K 17,300 ▲280K
NL 99.90 15,720 ▲250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,750 ▲250K
Trang sức 99.9 16,490 ▲280K 17,190 ▲280K
Trang sức 99.99 16,500 ▲280K 17,200 ▲280K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,717 ▲45K 17,472 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,717 ▲45K 17,473 ▲450K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,717 ▲45K 1,747 ▲45K
Cập nhật: 25/03/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18754
CAD 18620 18897 19521
CHF 32806 33191 33850
CNY 0 3470 3830
EUR 29988 30261 31297
GBP 34577 34969 35915
HKD 0 3238 3440
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15081 15672
SGD 20090 20373 20906
THB 727 790 844
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26359
AUD 18091 18191 19119
CAD 18809 18909 19927
CHF 33067 33097 34689
CNY 3764.6 3789.6 3925.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30184 30214 31937
GBP 34903 34953 36705
HKD 0 3355 0
JPY 162.64 163.14 173.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20256 20386 21121
THB 0 756.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80