Tăng trưởng tín dụng năm 2022 có thể lên tới 15%

Thái Duy
Trong năm nay, khi các hoạt động của nền kinh tế được mở cửa trở lại và Chính phủ thực hiện chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch thông qua cả chính sách tiền tệ và tài khóa, nên dự báo tăng trưởng tín dụng có thể lên tới 15% cho cả năm 2022.
aa

Tín dụng có dư địa tăng tốt hơn

Theo số liệu từ Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), tính tới cuối tháng 2, lãi suất huy động 12 tháng đã giảm nhẹ trở lại 0,006 điểm phần trăm, xuống còn 5,545%. So với cùng kỳ, lãi suất huy động vẫn ghi nhận mức giảm 0,14 điểm phần trăm.

Số liệu từ BVSC cũng cho hay, tăng trưởng tín dụng (tới ngày 28/1/2022) đạt 2,74% - mức cao nhất trong 10 năm qua. Tín dụng tăng mạnh đã khiến cho thanh khoản hệ thống ngân hàng có phần căng thẳng hơn và phải sử dụng tới kênh OMO để bơm tiền ngắn hạn ra ngoài hệ thống sau gần kênh này 1 năm đóng băng. Lãi suất liên ngân hàng cũng tăng lên mức cao nhất trong vòng nhiều tháng. Thanh khoản căng thẳng thời gian qua một phần đến từ yếu tố mùa vụ khi nhu cầu thanh toán chi trả dịp Tết Nguyên đán tăng cao. Do đó, BVSC đánh giá khi yếu tố này qua đi, lãi suất liên ngân hàng cũng sẽ hạ nhiệt trở lại.

Trong khi đó, số liệu mới hơn từ SSI Research cung cấp, theo dữ liệu từ cuộc họp thường kỳ Chính phủ cho thấy tín dụng tính đến cuối tháng 2 tăng 1,82% so với cuối 2021 - thấp hơn mức 2,74% ghi nhận vào cuối tháng 1 năm nay. Như vậy, dư nợ tín dụng đã giảm 96 nghìn tỷ đồng so với tháng 1.

Tăng trưởng tín dụng năm 2022 có thể lên tới 15%

Chuyên gia của SSI Research lý giải bằng hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, tác động của yếu tố mùa vụ dịp Tết Nguyên đán đến hoạt động tín dụng, trong đó nhu cầu thường tăng mạnh trước tết, và sau tết hạ nhiệt dần. Thứ hai, thời điểm Thông tư 16/2021/TT-NHNN có hiệu lực là giữa tháng 1 và doanh nghiệp có thể đẩy mạnh phát hành trái trước thời điểm này. Số trái phiếu này sau đó sẽ được phân phối, do đó có thể dẫn đến giảm dư nợ tín dụng tại các ngân hàng.

Tuy vậy, các chuyên gia của SSI Research vẫn duy trì quan điểm là Ngân hàng Nhà nước sẽ thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng trong năm nay để đảm bảo mặt bằng lãi suất cho vay và huy động ở mức thấp. Tăng trưởng tín dụng vào năm 2022 được kỳ vọng vào khoảng 14 – 15%.

Cùng chung nhận định, các chuyên gia của BVSC cũng cho rằng, trong năm nay, khi các hoạt động của nền kinh tế được mở cửa trở lại và Chính phủ thực hiện chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch thông qua cả chính sách tiền tệ và tài khoá, nên dự báo tăng trưởng tín dụng có thể lên tới 15% cho cả năm 2022.

Biến động tỷ giá sẽ không quá lớn

Tính tới cuối tháng 2, tỷ giá trung tâm và tỷ giá USD/VND giao dịch thực tế tại ngân hàng thương mại có chung xu hướng tăng so với tháng trước, lần lượt ở mức 0,18% và 0,69%. So với cuối năm 2021, hai loại tỷ giá này cùng giảm 0,02% và 0,03%. Trong khi đó, trên thị trường thế giới, chỉ số Dollar-Index (DXY) ghi nhận mức tăng 0,17% so với tháng trước và 1,08% so với cùng kỳ 2021.

Theo mẫu theo dõi của BVSC, các đồng tiền tại các nước mới nổi ở châu Á vẫn có diễn biến giảm so với USD trong tháng đầu tiên của năm 2022. Chỉ có VND, CNY và THB là các đồng tiền tăng giá so với USD. Đồng THB của Thái Lan tăng mạnh nhờ đà tăng của giá vàng khi đây là quốc gia có giao dịch vàng sôi động. Diễn biến căng thẳng leo thang ở Nga – Ukraine khiến nhà đầu tư tìm kiếm các tài sản trú ẩn an toàn, bao gồm vàng, đẩy giá kim loại này tăng cao.

Tăng trưởng tín dụng năm 2022 có thể lên tới 15%

Chuyên gia của BVSC đánh giá, cuộc họp chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) trong tháng 3 này là một sự kiện đáng quan tâm, khi đây là thời điểm FED kết thúc gói kích thích kinh tế (QE) và đang tính toán tới việc tăng lại lãi suất để kiểm soát diễn biến tăng nóng của lạm phát tại quốc gia này. Mặc dù vậy, với nền kinh tế vĩ mô ổn định và nguồn dự trữ ngoại hối lớn, BVSC đánh giá biến động của tỷ giá trong năm 2022 sẽ không quá lớn.

Trên thực tế, trong tuần vừa qua, mặc dù chịu tác động từ xung đột Nga – Ukraine, nhưng đồng VND giao dịch tương đối ổn định. Trên thị trường liên ngân hàng, USD/VND giao dịch ổn định quanh mức 22.850 đồng/USD, trong khi tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại tăng 20 đồng, kết tuần ở mức VND 22.670/22.980 đồng (mua vào/bán ra). Tỷ giá trên thị trường tự do không có nhiều biến động mạnh trong tuần và giao dịch ở 23.460/23.510 đồng.

“Áp lực đối với đồng VND đã phần nào xuất hiện trong thời gian qua, khi đồng USD có xu hướng mạnh lên ở thị trường quốc tế và áp lực lạm phát cao hơn từ giá năng lượng tăng. Tuy nhiên, về mặt tích cực, dòng tiền ngoại tệ có thể phần nào đc hỗ trợ từ việc mở cửa hoàn toàn biên giới quốc tế vào ngày 15/3” – Chuyên gia của SSI Research cho hay./.

Thái Duy

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 13,500
Nguyên Liệu 99.9 13,250 13,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 14,600
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 14,490
Trang sức 99.99 13,800 14,500
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 25/06/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17978 18253 18872
CHF 31759 32140 32780
CNY 0 3825 3918
EUR 29232 29452 30533
GBP 33837 34226 35174
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14526 15114
SGD 19731 20013 20589
THB 703 766 820
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26451
AUD 17793 17893 18815
CAD 18151 18251 19262
CHF 32025 32055 33633
CNY 3806.4 3831.4 3966.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29432 29462 31184
GBP 34198 34248 36016
HKD 0 3355 0
JPY 159.28 159.78 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14649 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20755
THB 0 732.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80