Agribank ghi nhiều dấu ấn trên hành trình vì cộng đồng

(TBTCO) - Tài trợ hơn 600 tỷ đồng xây dựng trên 2.000 căn nhà đại đoàn kết, nhà tình nghĩa, 17 công trình trường học, phòng học, 6 trạm/cơ sở y tế, cùng hàng chục nghìn suất quà Tết, suất học bổng, thiết bị giáo dục, thiết bị y tế, các gói khám chữa bệnh cho người nghèo, các hoạt động cứu trợ thiên tai... là những con số thiết thực ghi đậm dấu ấn của Agribank trong hành trình an sinh xã hội vì cộng đồng năm 2022 trên mọi miền của Tổ quốc.
aa

Mái ấm yêu thương - Ấm lòng người nghèo

Đã trở thành truyền thống tốt đẹp, công tác chăm lo, hỗ trợ cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, gia đình chính sách luôn được các chi nhánh Agribank trên toàn hệ thống tích cực thực hiện, lan toả với phương châm “Không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Năm 2022, Agribank dành nguồn kinh phí hơn 230 tỷ đồng tài trợ cho các địa phương có huyện nghèo, hỗ trợ xây dựng hơn 2.000 căn nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết cho người nghèo và đối tượng chính sách trong cả nước (tiêu biểu trao tặng 100 căn nhà đại đoàn kết với tổng trị giá 5 tỷ đồng/tỉnh cho các hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên các tỉnh Sơn La, Tuyên Quang, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang, Huế, huyện Củ Chi và Hóc Môn (TP. Hồ Chí Minh), Bạc Liêu, Sóc Trăng, An Giang,…).

Agribank ghi nhiều dấu ấn trên hành trình vì cộng đồng
Đại diện Agribank trao nhà tình nghĩa cho người dân.

Cùng với chương trình xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, tặng quà tết cho người nghèo cũng là chương trình từ thiện xã hội thường niên đã trở thành dấu ấn tốt đẹp của Agribank trong nhiều năm qua. Hàng năm, Agribank dành hàng chục tỷ đồng mang đến những phần quà tết đầy ý nghĩa đối với những hộ nghèo, những gia đình có hoàn cảnh khó.

Năm 2022, trong bối cảnh còn rất nhiều khó khăn và thách thức đối với nền kinh tế đất nước nói chung, cũng như mỗi gia đình nói riêng trong giai đoạn hậu Covid-19, nhưng công tác an sinh tại Agribank vẫn ấm áp nghĩa tình với hơn 70 tỷ đồng mang đến những chương trình thiết thực cho người nghèo đón tết. Từng phần quà đượm vị tết, thắm nghĩa tình đã được Agribank trên toàn hệ thống phối hợp cơ quan chính quyền địa phương trao tặng tận tay hộ nghèo, giúp căn bếp mỗi gia đình thêm ấm áp, đủ đầy hương vị ngày tết.

Đặc biệt, trong hành trình dựng xây và phát triển 35 năm qua, Agribank nhận thức rõ vai trò và trách nhiệm trong công tác đền ơn, đáp nghĩa đối với thương binh, liệt sĩ và gia đình người có công. Các hoạt động “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa”, tri ân gia đình có công với cách mạng được cán bộ, đoàn viên thanh niên Agribank chú trọng và quan tâm.

Trên các vùng miền của Tổ quốc, những mái ấm đồng đội, mái ấm tình thương dành cho các hộ nghèo, mang dấu ấn của Agribank đã và đang được hình thành. Phong trào phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng, thăm hỏi và tặng quà thương bệnh binh, người có công với cách mạng, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho các gia đình chính sách, người có công tại các địa phương… đã tạo sức lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng, được các cấp, các ngành, chính quyền địa phương và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Agribank ghi nhiều dấu ấn trên hành trình vì cộng đồng
Tổng giám đốc Agribank Phạm Toàn Vượng trao tặng 10 tỷ đồng an sinh xã hội tại Chương trình "Tết sum vầy - Xuân gắn kết 2023".

Tiếp sức cho tương lai của đất nước

Điểm sáng trong hoạt động an sinh xã hội của Agribank trong năm 2022 là các chương trình tài trợ cho giáo dục. Từ nhiều năm qua, giáo dục là lĩnh vực Agribank dành phần lớn nguồn lực, tâm sức để thực hiện với đa dạng các nội dung tài trợ. Năm 2022, riêng kinh phí tài trợ cho lĩnh vực giáo dục là hơn 166 tỷ đồng, con số cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Agribank với đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho tương lai của đất nước.

Từ nguồn kinh phí tài trợ cho công tác giáo dục, năm 2022 đã có 11 công trình trường học, 6 công trình phòng học, nhà bán trú cùng rất nhiều thiết bị, phần mềm quản lý đào tạo được tạo nên từ nguồn vốn đóng góp của Agribank.

Tiêu biểu như công trình Trường phổ thông dân tộc bán trú và tiểu học Hoàng Thu Phố 2, xã Hoàng Thu Phố, huyện Bắc Hà, Lào Cai với kinh phí 10 tỷ đồng; trường mầm non Trần Văn Ơn, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; trường mầm non xã Thành Tâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa với số tiền 7 tỷ đồng/trường…; công trình 8 phòng học cho học sinh Trường mầm non xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; nhà học 3 tầng 18 phòng học cho khối THCS trường Tiểu học - THCS xã Hồng Việt, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình với kinh phí 7 tỷ đồng/công trình; nhà 2 tầng 10 phòng học Trường THCS Tân Dương xã Tân Dương huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên với kinh phí 8,5 tỷ đồng)…

Agribank ghi nhiều dấu ấn trên hành trình vì cộng đồng
Agribank tiếp thêm động lực, khát vọng trên con đường đến trường của học sinh, sinh viên nghèo hiếu học.

Agribank cũng dành gần 50 tỷ đồng trao tặng hàng ngàn suất học bổng cho các em học sinh học giỏi vượt khó và tài trợ cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập của các trường. Chương trình trao tặng tủ sách, thiết bị học tập "Thêm con chữ, bớt đói nghèo" đến nay đã triển khai tại 61 tỉnh, thành, được chính quyền địa phương và cộng đồng xã hội ghi nhận, đánh giá cao.

Những món quà từ Agribank đã có ý nghĩa động viên khuyến khích rất lớn đối với mỗi nhà trường và mỗi em học sinh, đồng thời đóng góp tích cực, hiệu quả trong việc hỗ trợ các địa phương hoàn thiện, nâng cấp sơ sở vật chất giáo dục, cải thiện điều kiện giảng dạy, học tập cho các thầy và trò tại các vùng khó khăn.

Hiệu quả thiết thực từ các chương trình hỗ trợ y tế, cứu trợ thiên tai

Trong năm 2022, Agribank cũng dành hơn 44 tỷ đồng cho các hoạt động tài trợ cho y tế, như xây dựng 6 trạm/cơ sở y tế, 22 xe cứu thương chuyên dụng, dành hơn 12 tỷ đồng tài trợ mua thiết bị y tế như máy siêu âm, máy chạy thận nhân tạo... trang bị/nâng cấp cơ sở vật chất, thiết bị y tế cho các bệnh viện, trạm y tế, cơ sở khám chữa bệnh tại các địa phương, giúp người dân cải thiện điều kiện thăm khám sức khỏe, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Từ năm 2021, trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, Agribank đã phối hợp với chính quyền chia sẻ với những khó khăn của người dân. Hàng vạn sổ BHXH, thẻ BHYT đã được Agribank kịp thời trao tặng người lao động và nhân dân cả nước...

Mới đây, đồng hành cùng chương trình “Tặng sổ BHXH, thẻ BHYT cho người có hoàn cảnh khó khăn năm 2022 và mang Tết ấm cho người nghèo - Xuân Quý Mão” do Bảo hiểm Xã hội Việt Nam phát động, Agribank đã tham gia tài trợ 1.451 sổ BHXH và 8.497 thẻ BHYT với tổng trị giá 5 tỷ đồng.

Agribank ghi nhiều dấu ấn trên hành trình vì cộng đồng
Phó Tổng giám đốc Agribank Nguyễn Thị Phượng trao tặng tài trợ sổ BHXH và thẻ BHYT với tổng trị giá 5 tỷ đồng.

Không chỉ dừng lại ở đó, cũng trong năm 2022, trước tình hình thiên tai tại nhiều địa phương như lũ quét, bão lũ, triều cường…, Agribank đã dành hơn 15 tỷ đồng cứu trợ khắc phục hậu quả thiên tai, nhanh chóng ổn định cuộc sống, sản xuất cho bà con tại các vùng bị ảnh hưởng.

Khép lại năm 2022, cùng với việc hoàn thành nhiệm vụ kinh doanh của toàn hệ thống, công tác an sinh xã hội đã được Agribank thực hiện đúng theo kế hoạch, tiếp tục xây dựng, lan tỏa và kết nối những hoạt động an sinh với phương châm “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Mỗi chương trình an sinh xã hội của Agribank không đơn thuần chỉ là giá trị vật chất, mà đó chính là trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng, là sự kết nối từ trái tim đến trái tim của mỗi cán bộ, nhân viên Agribank trên hành trình lan tỏa những giá trị nhân ái và xây dựng hình ảnh một ngân hàng “Vì cộng đồng”.

Đã trở thành thông lệ hàng năm, năm 2022, Agribank dành hơn 90 tỷ đồng với mong muốn mang lại một tết an vui cho mọi nhà, mọi người trên khắp mọi miền của Tổ quốc. Agribank giao các chi nhánh trên địa bàn phối hợp với chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội tại các địa phương hỗ trợ chăm lo quà Tết cho người nghèo, gia đình chính sách. Đây là năm thứ 4 liên tiếp Agribank tham gia hỗ trợ quà Tết cho người nghèo và gia đình chính sách của các địa phương nhân dịp Tết Nguyên đán, với tổng số tiền hơn 250 tỷ đồng.
Linh Chi

Đọc thêm

Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

Doanh nghiệp và địa phương "bắt nhịp" đưa bảo hiểm nông nghiệp vào mùa vụ mới

(TBTCO) - Dư địa phát triển bảo hiểm nông nghiệp được mở rộng khi Nghị định số 346/2026/NĐ-CP trao thêm quyền chủ động, linh hoạt hơn cho doanh nghiệp và địa phương. Để chính sách sớm phát huy hiệu quả, việc địa phương sớm ban hành danh mục hỗ trợ, doanh nghiệp năng động triển khai, bảo vệ sinh kế người dân trước rủi ro ngay từ những vụ sản xuất tới.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

Tập đoàn Bảo Việt (BVH) đạt gần 48.000 tỷ đồng doanh thu 9 tháng đầu năm

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý III năm 2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất 9 tháng đạt 47.928 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

Bảo hiểm PTI lãi 245 tỷ đồng sau 9 tháng, lợi nhuận gộp hoạt động tài chính tăng gần 65%

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 245 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận từ hoạt động tài chính tăng gần 65%, trở thành "điểm sáng". Doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 3.238,7 tỷ đồng, duy trì đà tăng 16,7% sau quá trình tái cơ cấu danh mục bảo hiểm nhiều năm.
VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

VBI – HMFI: 8 năm hợp tác chiến lược, hướng tới tăng trưởng bền vững

(TBTCO) - Ngày 27-28/10, Bảo hiểm VietinBank - VBI và Hyundai Marine & Fire Insurance (HMFI) tổ chức sự kiện hội nghị thường niên, đánh dấu năm thứ 8 trong quan hệ hợp tác chiến lược. Sự kiện tạo cơ hội để VBI kết nối kinh nghiệm quốc tế, cập nhật các xu hướng về phát triển sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và ứng dụng công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu thị trường và duy trì tăng trưởng bền vững.
Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

Bảo hiểm nông nghiệp: Cần chuyển mạnh từ 'hỗ trợ khắc phục hậu quả sau rủi ro' sang 'quản trị rủi ro chủ động'

(TBTCO) - Sáng 30/10, tại TP. Cần Thơ, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, UBND TP. Cần Thơ và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tổ chức Hội nghị phổ biến Nghị định số 346/2026/NĐ-CP ngày 5/9/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/10: Vàng thế giới lùi về 4.021 USD/ounce, vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Vàng thế giới giảm còn 4.021 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng đứng giá, còn vàng nhẫn SJC giảm 300.000 đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

Ngân hàng Nhà nước làm rõ ngưỡng thanh toán 5 triệu đồng khi mua bán vàng, xử lý hành vi né quy định

(TBTCO) - Phản hồi vấn đề của Bảo Tín Minh Châu đặt ra, Ngân hàng Nhà nước nêu rõ ngưỡng 5 triệu đồng được tính trên tổng giá trị mua, bán vàng trong ngày của một khách hàng. Trường hợp cố ý chia nhỏ giao dịch hoặc các đợt thanh toán nhằm né tránh quy định về thanh toán không dùng tiền mặt sẽ bị xem xét, xử lý.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Hà Nội - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Đà Nẵng - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Miền Tây - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Tây Nguyên - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 ▼2400K 137,600 ▼2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
Miếng SJC Nghệ An 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
Miếng SJC Thái Bình 13,600 ▼240K 13,900 ▼240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 ▼220K 13,800 ▼220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 ▼220K 13,800 ▼220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 ▼220K 13,800 ▼220K
Trang sức 99.9 13,080 ▼220K 13,680 ▼220K
Trang sức 99.99 13,090 ▼220K 13,690 ▼220K
Vàng 99.9 12,550 ▼300K
Vàng 99.99 12,700 ▼340K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 ▼1248K 13,902 ▼240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 ▼1248K 13,903 ▼240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 ▼25K 1,358 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 ▼25K 1,359 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 ▼25K 1,348 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 ▼2476K 133,465 ▼2476K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 ▼84189K 10,126 ▼93009K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 ▼1700K 91,823 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 ▼1525K 82,386 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 ▼1458K 78,746 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 ▲41806K 56,367 ▲50626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 ▼1248K 139 ▼1275K
Cập nhật: 31/10/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/10/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30