Agribank được vinh danh tại Chương trình “Vinh Quang Việt Nam” 2025

(TBTCO) - Tối ngày 22/6/2025, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã tổ chức Chương trình “Vinh quang Việt Nam” năm 2025 với chủ đề “Tự hào và Khát vọng”.
aa

Tại chương trình, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) vinh dự là đại diện ngân hàng duy nhất được xướng tên, ghi dấu ấn đặc biệt với những đóng góp to lớn, bền bỉ và đầy trách nhiệm vì sự phát triển của đất nước - đặc biệt trong lĩnh vực “Tam nông”.

Tham dự chương trình có đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa - Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Hồ Đức Phớc - Phó Thủ tướng Chính phủ, Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nguyễn Đình Khang - Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Nguyễn Thị Tuyến - Chủ tịch Hội Liên hiệp hội Phụ nữ Việt Nam; Hoàng Trung Dũng - Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản và các đồng chí Ủy viên dự khuyết BCH TW Đảng: Bùi Quang Huy - Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đoàn; Lê Hải Bình, Thứ trưởng Thường trực Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Về phía Agribank, Phó Tổng Giám đốc Phùng Thị Bình tham dự và đại diện Agribank nhận vinh danh tại chương trình.

Agribank được vinh danh tại Chương trình “Vinh Quang Việt Nam” 2025
Agribank là đại diện ngân hàng duy nhất được vinh danh trong chương trình “Vinh quang Việt Nam” năm 2025.

Chương trình “Vinh quang Việt Nam” là sự kiện thường niên có uy tín, mang ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, nhằm tôn vinh các tập thể, cá nhân anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc, điển hình tiên tiến có thành tích đặc biệt xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 2025, Chương trình “Vinh quang Việt Nam” mang chủ đề “Tự hào và Khát vọng”, tiếp tục lan tỏa giá trị thiêng liêng ấy bằng việc vinh danh những tập thể, cá nhân có bề dày thành tích, những thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực.

Phát biểu tại Chương trình “Vinh quang Việt Nam 2025”, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước gửi lời chúc mừng tốt đẹp tới các đại biểu, đồng chí, đồng bào, chiến sĩ và người dân cả nước, đồng thời bày tỏ sự tri ân sâu sắc, niềm cảm phục với các tập thể, cá nhân được vinh danh trong chương trình.

"Đây chính là những hiện thân chân thực, sinh động nhất của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời kỳ mới; của tinh thần Việt Nam bất khuất, ý chí quật cường trước gian lao, thách thức; là minh chứng sinh động cho khát vọng vươn lên, cho tâm thế "mỗi người vì mọi người" luôn chảy mãi trong mỗi công dân Việt Nam” - ông Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh.

Tại chương trình, Ban Tổ chức đã công bố và vinh danh 19 tấm gương anh hùng, điển hình tiên tiến (13 tập thể, 6 cá nhân) có thành tích xuất sắc, đóng góp nổi bật cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Agribank là đại diện ngân hàng duy nhất được vinh danh trong Chương trình.

Đây không chỉ là niềm tự hào của Agribank, mà còn là sự ghi nhận xứng đáng của Đảng, Nhà nước và xã hội đối với những đóng góp to lớn, bền bỉ và đầy trách nhiệm của Agribank trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân – trụ đỡ chiến lược của nền kinh tế.

Trụ cột phát triển nông nghiệp, nông thôn

Mang trong mình sứ mệnh kép – vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị của Ngân hàng thương mại 100% vốn Nhà nước, vừa đảm đương nhiệm vụ kinh doanh, trải qua 37 năm xây dựng và phát triển, sứ mệnh vì nền nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam luôn là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt hành trình phát triển của Agribank.

Agribank được vinh danh tại Chương trình “Vinh Quang Việt Nam” 2025
13 tập thể nhận biểu trưng Vinh quang Việt Nam 2025.

Không ngừng đổi mới và sáng tạo trong cung ứng vốn, phát triển dịch vụ hiệu quả, phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, Agribank đi đầu trong nhiều mô hình mang tính đột phá, ghi dấu ấn đậm nét trong từng giai đoạn phát triển như: thí điểm cho vay tới hộ nông dân, thành lập tổ liên danh vay vốn, ngân hàng lưu động, đề xuất sáng kiến thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo (tiền thân của Ngân hàng chính sách xã hội ngày nay), đầu tư phát triển nông nghiệp sạch, chuỗi liên kết, nông nghiệp công nghệ cao...,Agribank đã triển khai trên 64.000 tổ vay vốn, mô hình điểm giao dịch lưu động bằng ô tô chuyên dùng với gần 4.000 phiên giao dịch phục vụ hàng chục ngàn lượt khách hàng, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Bên cạnh đó, Agribank là đơn vị tiên phong đưa “tài chính xanh” vào phát triển nông nghiệp, hỗ trợ mô hình sản xuất tuần hoàn, giảm phát thải, hướng tới phát triển bền vững và hiện thực hóa cam kết “phát thải ròng bằng 0” của Việt Nam vào năm 2050.

Tiên phong thực hiện chính sách vĩ mô và an sinh xã hội

Agribank là ngân hàng chủ lực thực hiện các chính sách của Đảng, Nhà nước góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội, phát triển nông nghiệp - “trụ đỡ” của nền kinh tế theo hướng hiện đại, bền vững.

Agribank đã và đang thực hiện hiệu quả 7 chính sách tín dụng chính sách, 3 chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số, miền núi. Với thị phần tín dụng nông nghiệp, nông thôn chiếm đến 1/3 toàn ngành, Agribank đã và đang đóng vai trò huyết mạch dẫn vốn cho sản xuất nông nghiệp, qua đó không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn góp phần quan trọng vào sự ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững.

Đóng góp vượt trội vào ngân sách nhà nước và trách nhiệm cộng đồng

Không chỉ đóng vai trò quan trọng trong dẫn dắt thị trường, Agribank còn là một trong những doanh nghiệp có đóng góp ngân sách lớn nhất cho đất nước với hơn 43.000 tỷ đồng giai đoạn 2021–2024 (riêng năm 2024 đạt hơn 15.000 tỷ đồng), nhiều năm liền thuộc TOP 10 doanh nghiệp nộp thuế lớn nhất Việt Nam, khẳng định vai trò trụ cột trong hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam.

Bên cạnh hoạt động kinh doanh, Agribank luôn phát huy tinh thần “Ngân hàng vì cộng đồng”. Hàng năm, ngân hàng dành 500 - 600 tỷ đồng cho các hoạt động an sinh xã hội. Riêng năm 2024, con số này lên tới gần 700 tỷ đồng với hàng loạt công trình nhà ở, trường học, trạm y tế, khắc phục thiên tai, bảo vệ môi trường… được triển khai rộng khắp trên cả nước, góp phần cải thiện điều kiện sống cho hàng vạn người dân.

Việc Agribank được lựa chọn vinh danh tại chương trình "Vinh quang Việt Nam" năm 2025 là minh chứng cho hành trình 37 năm kiên định, tận tụy và hiệu quả trong thực thi sứ mệnh phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn – nền tảng cốt lõi của kinh tế Việt Nam.

Với những thành tựu nổi bật trong chặng đường 37 năm xây dựng và phát triển, Agribank vinh dự được Đảng, Nhà nước, các tổ chức uy tín trong nước và quốc tế vinh danh Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2003); Huân chương Độc lập hạng Nhì (2008), Huân chương Lao động hạng Nhất (2018, 2023), thương hiệu quốc gia, Top 10 ngân hàng lớn nhất Việt Nam, Top 50 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, tiếp tục được Moody's xếp hạng Ba2, triển vọng ổn định và Fitch Ratings xếp hạng BB+, triển vọng Ổn định, tương đương với mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia và là mức xếp hạng cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam…

Tiếp tục kiên định mục tiêu đồng hành phát triển cùng “Tam nông” và nền kinh tế đất nước, Agribank không ngừng khẳng định vị thế, vai trò kiến tạo, trở thành "ngọn cờ" của khát vọng Việt Nam, xây dựng nền nông nghiệp bền vững, nông thôn văn minh - phồn thịnh, cùng đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới.

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

VIB lãi trước thuế gần 5.200 tỷ đồng sau 6 tháng, dư nợ cho vay tiến sát 400 nghìn tỷ đồng

(TBTCO) - VIB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 5.185,7 tỷ đồng, tăng 3,4% so với cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi và dịch vụ. Hoạt động cho vay tiếp tục mở rộng với dư nợ đạt hơn 397 nghìn tỷ đồng, chất lượng tài sản được cải thiện, trong khi ngân hàng chủ động tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.
Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▼1400K 141,200 ▼1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼150K 14,150 ▼150K
NL 99.99 12,950 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▼50K
Trang sức 99.9 13,340 ▼150K 14,040 ▼150K
Trang sức 99.99 13,350 ▼150K 14,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1236K 14,152 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1236K 14,153 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 ▼1248K 141 ▼1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 ▼1248K 1,411 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1221K 139 ▼1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▼1485K 137,624 ▼1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼86275K 10,441 ▼95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲84020K 94,679 ▲93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▼916K 84,948 ▼916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲64168K 81,195 ▲72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▼625K 58,119 ▼625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1236K 1,415 ▲1272K
Cập nhật: 28/07/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17808 18081 18660
CAD 18126 18401 19019
CHF 31456 31835 32490
CNY 0 3849 3942
EUR 29277 29498 30581
GBP 34166 34557 35497
HKD 0 3228 3430
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14871 15462
SGD 19816 20098 20677
THB 698 761 815
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26150 26520
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,429 29,453 30,858
JPY 156.44 156.72 166.18
GBP 34,368 34,461 35,658
AUD 18,017 18,082 18,764
CAD 18,305 18,364 19,039
CHF 31,758 31,857 32,794
SGD 19,949 20,011 20,792
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,290 3,300 3,438
KRW 16.61 17.32 18.84
THB 746.29 755.51 809.03
NZD 14,864 15,002 15,445
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,075
NOK - 2,676 2,771
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,019.21 - 6,794.39
TWD 733.68 - 888.71
SAR - 6,894.3 7,260.88
KWD - 83,206 88,522
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,135 26,515
EUR 29,394 29,512 30,703
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,289 3,302 3,419
CHF 31,623 31,750 32,665
JPY 156.73 157.36 165.26
AUD 18,056 18,129 18,725
SGD 20,034 20,114 20,703
THB 762 765 801
CAD 18,316 18,390 18,966
NZD 14,953 15,496
KRW 17.14 19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26154 26154 26514
AUD 17997 18097 19020
CAD 18304 18404 19418
CHF 31703 31733 33315
CNY 3829.8 3854.8 3990.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34472 34522 36282
HKD 0 3355 0
JPY 157.19 157.69 168.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 14984 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19976 20106 20838
THB 0 727.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,159 26,209 26,530
USD20 26,109 26,209 26,536
USD1 26,059 26,209 26,571
AUD 18,057 18,157 19,264
EUR 29,286 29,386 31,045
CAD 18,248 18,348 19,654
SGD 20,067 20,217 20,781
JPY 157.75 159.25 164.8
GBP 34,399 34,549 35,770
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/07/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80