Doanh nghiệp Việt cần tạo giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu
FTA mở cửa, doanh nghiệp chưa khai thác hết lợi thế
Việt Nam đang sở hữu mạng lưới gần 20 FTA với nhiều đối tác thương mại quan trọng, từ các thị trường phát triển như EU, Nhật Bản, Anh, Canada đến các khu vực có tốc độ tăng trưởng cao. Những cam kết mở cửa thị trường, cắt giảm thuế quan trong các hiệp định này đã tạo ra lợi thế cạnh tranh đáng kể cho hàng hóa Việt Nam.
Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy FTA mới chỉ là điều kiện mở đầu, chưa phải yếu tố quyết định thành công xuất khẩu. Có thị trường, có ưu đãi thuế nhưng doanh nghiệp vẫn có thể bỏ lỡ cơ hội nếu không đáp ứng được các yêu cầu về xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, tính minh bạch của chuỗi cung ứng.
Ông Ngô Chung Khanh - Phó Vụ trưởng, Vụ Phát triển Thị trường nước ngoài và Thương mại đa biên, Bộ Công Thương cho rằng, Việt Nam hiện không thiếu FTA, vấn đề quan trọng là làm thế nào để doanh nghiệp tận dụng hiệu quả những cơ hội mà các hiệp định mang lại.
Theo ông Khanh, dư địa khai thác từ các FTA vẫn còn rất lớn. Nhiều thị trường Việt Nam đã có cam kết thương mại nhưng tỷ lệ hàng hóa Việt Nam hiện diện vẫn chưa tương xứng với quy mô nhập khẩu của các thị trường này.
EU là một ví dụ. Đây là thị trường có sức mua lớn, đồng thời là khu vực Việt Nam có lợi thế từ Hiệp định EVFTA. Tuy nhiên, thị phần của hàng Việt Nam tại EU vẫn còn khoảng cách lớn so với tiềm năng. Tương tự, các thị trường như Canada, Mexico hay Vương quốc Anh cũng đang mở ra nhiều cơ hội nhưng chưa được khai thác đầy đủ.
![]() |
| Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2026 đạt kỷ lục 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Ảnh: Lê Toàn |
Điểm nghẽn hiện nay không nằm ở việc thiếu cơ hội thị trường mà nằm ở khả năng đáp ứng của doanh nghiệp. “Chúng ta có rất nhiều FTA, nhưng điều quan trọng là làm sao để những cơ hội từ FTA đi vào cuộc sống, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp Việt Nam” - ông Khanh nhấn mạnh.
Thực tế, tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan trong một số FTA thế hệ mới vẫn còn hạn chế. Điều này cho thấy nhiều doanh nghiệp chưa thể chuyển hóa lợi thế trên giấy thành lợi ích kinh doanh cụ thể.
Nguyên nhân một phần đến từ cách tiếp cận thị trường của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp vẫn tập trung vào sản xuất, sau đó tìm kiếm thị trường tiêu thụ, trong khi xu hướng hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp phải bắt đầu từ yêu cầu của khách hàng, tiêu chuẩn của thị trường rồi tổ chức lại sản xuất.
Quan trọng hơn, luật chơi thương mại quốc tế đang thay đổi.
Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu quan tâm đến thuế suất, thủ tục hải quan và giấy chứng nhận xuất xứ (C/O), thì hiện nay các thị trường lớn đang yêu cầu nhiều hơn. Một sản phẩm muốn xuất khẩu không chỉ cần có giá cạnh tranh mà còn phải chứng minh được nguồn nguyên liệu, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội và mức độ ổn định của chuỗi cung ứng.
Ông Khanh cho biết, các FTA thế hệ mới đã mở rộng phạm vi cam kết sang những lĩnh vực như phát triển bền vững, môi trường, lao động, thương mại điện tử và an ninh chuỗi cung ứng. Điều đó buộc doanh nghiệp phải thay đổi tư duy từ “bán sản phẩm” sang “quản trị toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm”.
Làm chủ chuỗi cung ứng để tạo giá trị
Nếu sự thay đổi của thị trường quốc tế đặt doanh nghiệp trước yêu cầu mới, thì năng lực nội tại của doanh nghiệp lại là yếu tố quyết định khả năng thích ứng.
TS. Bùi Bá Nghiêm- Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, cho rằng một trong những vấn đề cần nhìn nhận hiện nay là quy mô xuất khẩu chưa phản ánh đầy đủ giá trị mà doanh nghiệp trong nước tạo ra.
Xuất khẩu không chỉ là câu chuyện tăng kim ngạch, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp Việt Nam giữ lại được bao nhiêu giá trị trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thực tế này cho thấy thách thức lớn của nhiều ngành hàng xuất khẩu khi vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguyên liệu, linh kiện hoặc công nghệ từ bên ngoài.
Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải kiểm soát tốt hơn chuỗi cung ứng của mình. Không chỉ biết nhà cung cấp trực tiếp, doanh nghiệp cần hiểu rõ nguồn nguyên liệu, mức độ phụ thuộc vào từng thị trường, khả năng thay thế khi xảy ra gián đoạn.
![]() |
| Doanh nghiệp Việt Nam đang chủ động đa dạng hóa thị trường, nâng cao năng lực chuỗi cung ứng. Ảnh: Lạc Nguyên |
TS. Bùi Bá Nghiêm cho rằng, cần xây dựng một hệ sinh thái phối hợp giữa cơ quan quản lý, địa phương, hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp logistics và doanh nghiệp xuất khẩu để hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ các điểm nghẽn.
Một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là xây dựng nền tảng dữ liệu phục vụ điều phối xuất nhập khẩu và logistics.
“Muốn xử lý nhanh thì phải có dữ liệu theo thời gian thực. Những kiến nghị của doanh nghiệp nếu đến tay cơ quan xử lý quá chậm thì có khi sự việc đã trôi qua” - ông Nghiêm chia sẻ.
Bên cạnh dữ liệu, cũng cần thay đổi cách tổ chức chuỗi cung ứng theo hướng liên kết vùng, gắn sản xuất với logistics, cảng biển, trung tâm phân phối và các cửa ngõ xuất khẩu.
Theo ông Ngô Chung Khanh, các đối tác nhập khẩu ngày càng quan tâm sâu hơn đến khả năng chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, tính minh bạch của chuỗi cung ứng và mức độ đáp ứng tiêu chuẩn của doanh nghiệp.
Điều này đặc biệt quan trọng với những ngành sử dụng nhiều nguyên liệu nhập khẩu như dệt may, da giày, điện tử, cơ khí.
Một sản phẩm hoàn thiện tại Việt Nam chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã kiểm soát được toàn bộ chuỗi giá trị. Nếu không chứng minh được nguồn gốc nguyên liệu và mức độ đóng góp của sản xuất trong nước, lợi thế từ FTA có thể bị hạn chế.
Đối với TP. Hồ Chí Minh - trung tâm xuất nhập khẩu lớn của cả nước, vai trò không chỉ dừng ở việc hỗ trợ doanh nghiệp trên địa bàn, mà còn cần phát huy khả năng điều phối chuỗi cung ứng khu vực.
Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang chuyển sang giai đoạn cạnh tranh bằng năng lực thích ứng và mức độ tin cậy, lợi thế của doanh nghiệp Việt Nam sẽ không chỉ nằm ở việc có FTA với bao nhiêu thị trường, mà nằm ở khả năng biến những cam kết đó thành năng lực thực tế./.






