Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
aa
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2% UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

Hút ròng mạnh giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện

Tuần qua, trên thị trường mở (OMO), Ngân hàng Nhà nước bơm hơn 22.134,6 tỷ đồng qua kênh cầm cố giấy tờ có giá. Khối lượng phát hành tập trung vào hai phiên đầu và cuối tuần, đạt hơn 7.255 tỷ đồng ngày 14/9 và hơn 10.684 tỷ đồng ngày 18/9; có phiên phát hành rất thấp chỉ quanh 800 tỷ đồng.

Ở chiều ngược lại, khối lượng đáo hạn trong tuần lên tới hơn 84.677,7 tỷ đồng, cao gần 4 lần lượng phát hành mới. Đáng chú ý, 4/5 phiên đầu tuần hút ròng mạnh. Đến ngày 18/9, khi khối lượng phát hành tăng mạnh lên hơn 10.684 tỷ đồng trong khi đáo hạn còn hơn 9.394 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước quay lại bơm ròng gần 1.290 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh hơn 62.543,1 tỷ đồng khỏi hệ thống qua kênh OMO. Sau các giao dịch trong tuần, đến cuối ngày 18/9, tổng khối lượng lưu hành trên thị trường mở còn hơn 152.488,09 tỷ đồng.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất có xu hướng giảm ở kỳ hạn rất ngắn, nhưng tăng ở các kỳ hạn dài hơn.

Diễn biến trong tuần cho thấy lãi suất qua đêm hạ khá nhanh sau khi lên 5,16%/năm vào đầu tuần, lần lượt giảm xuống còn 3,2%/năm ngày 17/9.

Với các kỳ hạn khác, lãi suất đều tăng. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng nhẹ 0,03 điểm phần trăm lên 3,9%/năm. Trong khi đó, kỳ hạn 2 tuần tăng mạnh 1,14 điểm phần trăm lên 5,5%/năm; kỳ hạn 1 tháng tăng 0,7 điểm phần trăm lên 6%/năm và kỳ hạn 3 tháng tăng 0,09 điểm phần trăm lên 7%/năm.

Thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục duy trì ở quy mô lớn, với doanh số giao dịch nhiều phiên vượt 900.000 tỷ đồng.

Ngân hàng Nhà nước bơm hơn 22.134,6 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất. Ảnh minh họa.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, sự cải thiện thanh khoản gần đây có tính lan tỏa hơn so với giai đoạn trước, thể hiện đồng thời qua việc Ngân hàng Nhà nước hút ròng và lãi suất liên ngân hàng hạ mạnh trên toàn bộ các kỳ hạn.

“Một phần cải thiện đến từ sự phục hồi của nguồn vốn huy động khi tốc độ huy động 3 tháng gần đây đều nhanh hơn tốc độ tăng tín dụng. Ngoài ra, tốc độ giải ngân đầu tư công cũng đang mạnh mẽ hơn, riêng trong tháng 8 vốn thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước đạt 105,7 nghìn tỷ đồng (tăng 24,1% cùng kỳ), cũng hỗ trợ nguồn vốn hệ thống” - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Cũng theo đánh giá của chuyên gia UOB, để điều tiết thanh khoản, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ yếu sử dụng các nghiệp vụ thị trường mở, đồng thời loại trừ các khoản vay dành cho nhà ở xã hội và khu công nghiệp khỏi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng bất động sản, cũng như nới lỏng cách tính tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN.

Tuy nhiên, những mất cân đối của hệ thống tiếp tục duy trì tình trạng thanh khoản tương đối căng thẳng, khiến lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng đột biến.

Tỷ giá USD/VND đồng loạt tăng, Fed, BoJ cùng tăng lãi suất

Trên thị trường ngoại hối trong tuần từ ngày 14 - 18/9, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng tăng đồng loạt.

Theo đó, tỷ giá trung tâm tăng liên tục trong cả 5 phiên, từ 25.607 đồng đầu tuần lên 25.637 đồng vào ngày 18/9. So với cuối tuần trước, tỷ giá trung tâm tăng tổng cộng 41 đồng, đảo chiều sau hai tuần liên tiếp hạ nhiệt và thiết lập mức cao chưa từng có.

Ngân hàng Nhà nước bơm hơn 22.134,6 tỷ đồng

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD biến động mạnh hơn. Tại Vietcombank, tỷ giá USD mua vào - bán ra ở mức 25.800 - 26.210 VND/USD, cùng tăng 100 đồng ở cả hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 25.810 - 26.190 VND/USD, cùng tăng 80 đồng ở chiều mua vào và bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD cũng đi lên nhưng nhịp tăng rõ hơn về cuối tuần. Tính chung tuần, tỷ giá USD tự do lên 25.830 - 25.880, tăng 120 đồng, sau khi giảm 50 đồng trong tuần trước.

Tuần này, cả ba ngân hàng trung ương lớn đã đưa ra quyết định lãi suất, trong đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng 25 điểm cơ bản lên 3,75 - 4% sau hơn 3 năm giữ nguyên; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) vừa quyết định tăng 25 điểm cơ bản lên 1,25%; còn Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ nguyên lãi suất.

Fed tăng 75 điểm cơ bản, chưa đủ làm đổi khẩu vị nhà đầu tư

“Cộng dồn lại mức điều chỉnh đợt này, Fed sẽ tăng lãi suất khoảng 75 điểm cơ bản. Theo chúng tôi đánh giá, mức tăng 75 điểm cơ bản không phải nhỏ, nhưng không phải là con số quá lớn để làm thay đổi về khẩu vị đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam, cũng như cũng sẽ không đảo ngược lại tình thế”.

- Ông Đinh Đức Quang - Giám đốc
Khối kinh doanh tiền tệ,
Ngân hàng UOB Việt Nam.

Đánh giá ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho biết, theo dự báo mới nhất dự kiến được công bố vào tuần sau, nhóm nghiên cứu UOB cho rằng, Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất thêm một lần vào cuối năm nay và một lần nữa trong quý I/2027, với mức tăng khoảng 25 điểm cơ bản mỗi lần.

Điều quan trọng là lộ trình chính sách trong năm 2027 của Fed, chứ không chỉ là mức tăng 25 điểm cơ bản hiện tại.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt gồm EUR, JPY, GBP, CAD, SEK và CHF - tăng 1,1% tuần qua, lên 100,23 điểm.

Tại Nhật Bản, BoJ vừa nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lên 1,25%, phù hợp với kỳ vọng của thị trường. Quyết định được thông qua với tỷ lệ 7 phiếu thuận và 2 phiếu chống, trong đó hai thành viên Toichiro Asada và Ayano Sato phản đối việc tăng chi phí vay.

Thống đốc BoJ Kazuo Ueda tiếp tục khẳng định ngân hàng trung ương sẽ nâng lãi suất nếu triển vọng kinh tế và giá cả đòi hỏi chính sách tiền tệ thắt chặt hơn. Do quyết định tăng lãi suất lần này phần lớn đã được thị trường phản ánh vào giá, sự chú ý của nhà đầu tư chuyển sang tín hiệu về thời điểm và tốc độ của các đợt tăng tiếp theo.

Đồng yên Nhật phản ứng khá yếu sau quyết định tăng lãi suất. Tỷ giá USD/JPY thậm chí tăng 1,12% lên sát 158; sau khi BoJ ra quyết định lãi suất và Thống đốc Kazuo Ueda không điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát tỷ giá đồng Yên, dù diễn biến tỷ giá vẫn là yếu tố quan trọng cần theo dõi do có thể tác động đến giá cả và lạm phát./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 130 USD/ounce, vượt mốc 4.000 USD, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi lên.
Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

Bộ Tài chính bãi bỏ 32 thông tư liên tịch trong lĩnh vực tài chính

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 166/2026/TT-BTC bãi bỏ một số thông tư liên tịch do Bộ trưởng Bộ Tài chính liên tịch ban hành liên quan đến lĩnh vực tài chính. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/12/2026.
Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

Cán cân thanh toán quốc tế BOP trở lại thặng dư, sức ép tỷ giá chưa vơi

(TBTCO) - Loạt ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn phát tín hiệu tăng lãi suất, gia tăng sức ép lên tỷ giá và dòng vốn quốc tế. Dù nhiều cấu phần vẫn chịu áp lực, cán cân thanh toán quốc tế (BOP) quý II/2026 của Việt Nam vẫn thặng dư 81 triệu USD, cùng những tín hiệu tích cực gần đây mở ra kỳ vọng giảm sức ép tỷ giá, củng cố dự trữ ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
Trang sức 99.9 13,580 ▲220K 14,180 ▲220K
Trang sức 99.99 13,590 ▲220K 14,190 ▲220K
Vàng 99.9 12,850 ▲200K
Vàng 99.99 13,000 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,404 ▲10K 14,342 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,404 ▲10K 14,343 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,386 ▲21K 1,426 ▲21K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,386 ▲21K 1,427 ▲21K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,366 ▲21K 1,416 ▲21K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,198 ▲2079K 140,198 ▲2079K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,561 ▲1576K 106,361 ▲1576K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,648 ▲1429K 96,448 ▲1429K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,735 ▲1281K 86,535 ▲1281K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,911 ▲1224K 82,711 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,403 ▲876K 59,203 ▲876K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Cập nhật: 05/11/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17471 17744 18324
CAD 17870 18144 18760
CHF 30885 31262 31899
CNY 0 3807 3902
EUR 28289 28505 29582
GBP 33838 34227 35153
HKD 0 3142 3344
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14189 14774
SGD 19579 19860 20426
THB 684 747 800
USD (1,2) 25415 0 0
USD (5,10,20) 25452 0 0
USD (50,100) 25479 25493 25858
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,493 25,493 25,873
USD(1-2-5) 24,474 - -
USD(10-20) 24,474 - -
EUR 28,341 28,364 29,716
JPY 158.13 158.42 168.05
GBP 34,017 34,109 35,306
AUD 17,687 17,751 18,427
CAD 18,062 18,120 18,793
CHF 31,147 31,244 32,174
SGD 19,694 19,755 20,536
CNY - 3,776 3,921
HKD 3,207 3,217 3,353
KRW 17.61 18.37 19.99
THB 731.74 740.78 792.83
NZD 14,205 14,337 14,770
SEK - 2,602 2,695
DKK - 3,802 3,937
NOK - 2,715 2,816
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,931.13 - 6,695.84
TWD 704.04 - 853.09
SAR - 6,724.01 7,084.69
KWD - 81,173 86,390
AED - 6,739 7,263
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,480 25,510 25,890
EUR 28,309 28,451 29,679
GBP 34,006 34,177 35,214
HKD 3,202 3,221 3,339
CHF 30,948 31,104 32,052
JPY 157.75 159.34 167.32
AUD 17,649 17,773 18,369
SGD 19,663 19,842 20,439
THB 736 751 788
CAD 18,019 18,146 18,744
NZD 14,227 14,780
KRW 18.54 20.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25500 25500 25860
AUD 17665 17765 18690
CAD 18048 18148 19162
CHF 31132 31162 32736
CNY 3789.6 3814.6 3950
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28448 28478 30203
GBP 34127 34177 35935
HKD 0 3300 0
JPY 159.09 159.59 170.11
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14296 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19730 19860 20583
THB 0 712.5 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,390 25,510 25,850
USD20 25,360 25,510 25,850
USD1 25,340 25,510 25,850
AUD 17,602 17,752 18,917
EUR 28,276 28,376 30,032
CAD 18,009 18,109 19,415
SGD 19,824 19,974 20,528
JPY 159.66 161.16 166.69
GBP 34,050 34,200 35,530
XAU 14,088,000 0 14,392,000
CNY 0 3,770 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/11/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30