Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
aa
Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp Fed tăng lãi suất, chứng khoán Việt Nam chịu tác động thế nào? Fed tăng lãi suất, sắc xanh vẫn chiếm ưu thế tại nhiều thị trường châu Á

Fed phát tín hiệu tiếp tục thắt chặt, USD thêm lực hỗ trợ

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã quyết định tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức 3,75 - 4%, đánh dấu lần tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023. Quyết định được thông qua với tỷ lệ đồng thuận 12 - 0 và không gây bất ngờ, khi trước cuộc họp, thị trường đã định giá xác suất tăng lãi suất gần 90%.

Fed tăng lãi suất, bài toán tỷ giá và lãi suất cuối năm
Diễn biến lãi suất mục tiêu của Fed từ năm 2000 đến nay. Nguồn: CNBC, Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York.

Giải thích về quyết định trên, Chủ tịch Fed Kevin Warsh cho biết, lạm phát đã ở mức quá cao trong thời gian quá dài. Việc tăng lãi suất là bước đi thận trọng và có trách nhiệm nhằm kiềm chế áp lực giá, đồng thời để ngỏ khả năng tiếp tục tăng lãi suất.

Biểu đồ dự báo lãi suất (dot plot) tháng 9 cho thấy Fed vẫn nghiêng về khả năng tăng thêm lãi suất trong năm 2026, với 16/18 thành viên dự báo ít nhất một lần tăng nữa, đưa lãi suất điều hành lên vùng 4 - 4,25%. Theo công cụ CME FedWatch, thị trường định giá xác suất Fed tăng lãi suất tại cuộc họp tháng 10 ở khoảng 51%.

Theo bà Vũ Diệu Hà - chuyên viên phân tích vĩ mô Công ty cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV), nhiều khả năng Fed sẽ có thêm một lần tăng lãi suất 25 điểm cơ bản dựa trên hai lý do.

Một là, Fed tiếp tục nâng dự báo chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) toàn phần và PCE lõi năm 2026 thêm 10 điểm cơ bản so với dự báo hồi tháng 6. Đồng thời, dự báo lạm phát sẽ quay về mức mục tiêu 2% vào năm 2029, thay vì năm 2028 như dự báo trước đó. Trong khi đó, dự báo về tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng GDP được điều chỉnh theo hướng tích cực hơn.

Hai là, giá dầu vẫn duy trì ở mức cao, dự kiến quay về vùng 9x USD/thùng vào quý IV/2026, trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông tiếp tục gây gián đoạn hoạt động vận chuyển và xuất khẩu dầu mỏ.

“Chúng tôi nâng dự báo chỉ số DXY lên vùng 98 - 103 điểm trong phần còn lại của năm với động lực hỗ trợ USD trong ngắn hạn đến từ việc Fed phát tín hiệu tiếp tục thắt chặt, trong khi thị trường điều chỉnh kỳ vọng lãi suất theo hướng duy trì cao hơn” - chuyên gia KBSV nêu quan điểm.

Tuy nhiên, việc các ngân hàng trung ương lớn khác cũng duy trì định hướng kiểm soát lạm phát có thể hạn chế mức độ mở rộng chênh lệch lãi suất, qua đó làm giảm khả năng USD tăng giá một chiều và DXY tăng mạnh khỏi vùng dự báo.

Đan xen lực đỡ và sức ép

Dù vậy, tác động từ việc Fed tăng lãi suất đến tỷ giá, lãi suất của Việt Nam không diễn ra theo một chiều, mà đến từ nhiều yếu tố.

Ông Hồ Quốc Tuấn - Đại học Bristol (Anh) cho rằng, không nên đơn giản cho rằng Fed tăng lãi suất thì đồng USD nhất định tăng mạnh và VND sẽ chịu áp lực mất giá tương ứng.

Theo ông Hồ Quốc Tuấn, nền kinh tế Mỹ ít nhiều vẫn tiếp tục gồng với mặt bằng lãi suất cao hiện tại, nhưng không cần sợ sẽ tăng mạnh hay “chu kỳ tăng lãi suất”. diễn biến hiện tại chủ yếu cho thấy chỉ là giữ mặt bằng lãi suất cao hơn lâu hơn. Đối với Việt Nam, lãi suất Mỹ chỉ là một trong nhiều yếu tố tác động đến tỷ giá.

“Vấn đề không chỉ là Fed tăng lãi suất hay không, mà là so với kỳ vọng thì sao” - ông Tuấn bày tỏ.

Trong những tháng cuối năm, diễn biến tỷ giá còn phụ thuộc đáng kể vào cán cân thanh toán của Việt Nam với các dòng ngoại tệ vào - ra, từ giải ngân vốn FDI, cán cân thương mại, dòng vốn đầu tư gián tiếp, kiều hối, nhu cầu ngoại tệ phục vụ nhập khẩu và trả nợ nước ngoài, cũng như lượng ngoại tệ được khu vực FDI chuyển ra nước ngoài...

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Dù Fed tiếp tục phát tín hiệu thắt chặt chính sách tiền tệ, chuyên gia KBSV dự báo tỷ giá USD/VND sẽ đi ngang vào cuối năm 2026 so với cuối năm 2025, nhờ nguồn cung USD tích cực, từ kiều hối, vốn FDI giải ngân và nâng hạng thị trường chứng khoán.

“Chênh lệch lãi suất VND-USD dù có xu hướng thu hẹp nhưng vẫn duy trì trạng thái dương” - bà Vũ Diệu Hà nêu rõ.

Trong bối cảnh lợi suất tài sản bằng USD trở nên hấp dẫn hơn, dòng vốn có thể dịch chuyển về Mỹ, qua đó hỗ trợ đồng USD và gây sức ép lên tỷ giá. Để hạn chế áp lực này, cơ quan điều hành có thể bán USD từ dự trữ ngoại hối để tăng nguồn cung ngoại tệ trên thị trường, hoặc duy trì mặt bằng lãi suất VND đủ hấp dẫn, nhằm hạn chế sức ép dịch chuyển vốn và nắm giữ USD.

Đây cũng là bài toán khó đối với Việt Nam khi tỷ giá USD/VND liên tục lên các mức cao. Sau khi giảm trong hai tháng đầu năm 2026, tỷ giá trung tâm chuyển sang xu hướng tăng từ tháng 3/2026 đến nay. Ngày 17/9, tỷ giá trung tâm lên mức 25.632 đồng, đưa mức tăng so với đầu năm lên 511 đồng, tương đương 2%.

Ở trong nước, cung - cầu ngoại tệ cũng chịu sức ép từ cán cân thương mại nhập siêu 21,49 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm và nhu cầu chuyển vốn, lợi nhuận ra nước ngoài.

Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, nhà đầu tư nước ngoài có xu hướng mua ngoại tệ từ hệ thống tổ chức tín dụng để rút vốn, chuyển lợi nhuận về nước. Quy mô này đạt 3,66 tỷ USD năm 2024; 4,7 tỷ USD năm 2025. Riêng quý I/2026 đạt 1,6 tỷ USD và lũy kế 7 tháng đầu năm đạt 3,77 tỷ USD.

Trong khi áp lực ngoại tệ gia tăng, dư địa sử dụng dự trữ ngoại hối để can thiệp thị trường không còn dồi dào. Đến cuối tháng 6/2026, dự trữ ngoại hối ở mức khoảng 86 tỷ USD, trong khi kim ngạch nhập khẩu trong 3 tháng khoảng 150 tỷ USD, khiến quy mô dự trữ hiện thấp hơn đáng kể ngưỡng khuyến nghị của các tổ chức quốc tế.

Khi dư địa bán ngoại tệ bị thu hẹp, áp lực cân đối chính sách có thể chuyển nhiều hơn sang lãi suất. Tuy nhiên, việc duy trì lãi suất ở mức cao lại đi ngược với mục tiêu giảm chi phí vốn, hỗ trợ doanh nghiệp và thúc đẩy tín dụng cho tăng trưởng GDP hai con số.

Trong bối cảnh phải cân bằng các mục tiêu này, chuyên gia KBSV kỳ vọng, lãi suất huy động sẽ duy trì ở vùng hiện tại trong phần còn lại của năm. Lãi suất cũng có thể giảm nhẹ, nếu lạm phát được kiểm soát và Ngân hàng Nhà nước sẽ có biện pháp hỗ trợ thanh khoản thị trường tích cực hơn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước mở thêm dư địa tín dụng cho 25 ngân hàng, khi không tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026. Cơ chế này tiếp nối chính sách tương tự đã áp dụng với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 16/09/2026, tại Hà Nội, Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai (Xuân Mai Corp) và Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) - Chi nhánh Thăng Long và Chi nhánh Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng, nâng tầm mối quan hệ hợp tác gắn bó suốt nhiều năm qua trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, mở ra hành trình bứt phá mạnh mẽ cho cả hai bên trong tương lai.
ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

ADB vinh danh giao dịch tài trợ thương mại của Eximbank

(TBTCO) - Ngày 17/9/2026 tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) được trao giải “Giao dịch tài trợ thương mại tốt nhất dành cho doanh nghiệp SME” (Best SME Deal of the Year) tại Lễ trao giải lần thứ 12 của Chương trình Tài trợ Thương mại và Chuỗi cung ứng (Trade and Supply Chain Finance Program - TSCFP), thuộc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), được tổ chức vào ngày 10/9/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

Gỡ "nút thắt", mở rộng dòng vốn cho thuê tài chính vào y tế tư nhân

(TBTCO) - Với khả năng cung cấp vốn trung và dài hạn, tài trợ tới 100% giá trị thiết bị và dùng dòng tiền khai thác để trả tiền thuê, cho thuê tài chính có nhiều lợi thế với y tế tư nhân. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê tài chính thiết bị y tế mới khoảng 1.000 tỷ đồng, đặt ra yêu cầu tháo gỡ “nút thắt”, có chính sách đặc thù để mở rộng kênh vốn này.
Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Hà Nội - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Miền Tây - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,800 ▼700K 145,800 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Nghệ An 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
Miếng SJC Thái Bình 14,280 ▼70K 14,580 ▼70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▼20K 14,630 ▼20K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,940 ▼20K 14,540 ▼20K
Trang sức 99.99 13,950 ▼20K 14,550 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,428 ▼7K 14,582 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,428 ▼7K 14,583 ▼70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲1280K 1,453 ▲1307K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲1280K 1,454 ▼7K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,398 ▼7K 1,443 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,871 ▼693K 142,871 ▼693K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,586 ▼525K 108,386 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,484 ▲79588K 98,284 ▲88408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,382 ▼427K 88,182 ▼427K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,485 ▼408K 84,285 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,529 ▼292K 60,329 ▼292K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,428 ▼7K 1,458 ▼7K
Cập nhật: 17/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17958 18232 18811
CAD 18056 18331 18950
CHF 30877 31254 31897
CNY 0 3835 3932
EUR 29223 29443 30527
GBP 34016 34406 35357
HKD 0 3185 3387
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19848 20130 20702
THB 695 758 811
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 29,242 29,265 30,659
JPY 162.53 162.82 172.67
GBP 34,183 34,276 35,461
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,230 18,289 18,965
CHF 31,153 31,250 32,175
SGD 19,959 20,021 20,807
CNY - 3,801 3,947
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.34 18.08 19.67
THB 743.36 752.54 806.01
NZD 14,588 14,723 15,162
SEK - 2,601 2,692
DKK - 3,922 4,061
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,931.92 - 6,695.46
TWD 736.25 - 892
SAR - 6,800.69 7,163.63
KWD - 82,300 87,574
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,244 29,361 30,555
GBP 34,159 34,296 35,321
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,952 31,076 32,013
JPY 162.50 163.15 171.13
AUD 18,099 18,172 18,764
SGD 19,999 20,079 20,667
THB 759 762 799
CAD 18,242 18,315 18,904
NZD 14,615 15,157
KRW 18.02 19.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25828 25828 26188
AUD 18144 18244 19167
CAD 18231 18331 19350
CHF 31079 31109 32687
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29389 29419 31142
GBP 34335 34385 36143
HKD 0 3305 0
JPY 163.5 164 174.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14708 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19996 20126 20857
THB 0 723.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,703 25,740 26,180
USD20 25,673 25,740 26,180
USD1 25,653 25,740 26,180
AUD 18,184 18,284 19,389
EUR 29,161 29,261 30,919
CAD 18,170 18,270 19,575
SGD 20,072 20,222 20,779
JPY 163.85 165.35 170.9
GBP 34,184 34,334 35,400
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 759 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/09/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30