UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
aa

UOB nâng dự báo tăng trưởng, chỉ ra những biến số cần theo dõi

Trong đánh giá mới nhất về triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam, các chuyên gia UOB đã đưa ra những nhận định đáng chú ý về triển vọng tăng trưởng GDP, xu hướng tỷ giá, lãi suất, triển vọng thị trường chứng khoán và tác động đối với Việt Nam sau quyết định tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed).

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế
Các chuyên gia UOB đưa ra những đánh giá mới nhất về triển vọng kinh tế Việt Nam. Ảnh: UOB.

Theo đánh giá của UOB, kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn cuối năm với nền tảng tăng trưởng vững chắc, được hỗ trợ bởi hoạt động sản xuất, xuất khẩu và đầu tư tiếp tục duy trì đà tích cực. Dự báo tăng trưởng năm 2026 của nhóm nghiên cứu UOB cũng được điều chỉnh tăng lên.

Điểm nhấn đáng chú ý là tiến độ triển khai các chương trình đầu tư và cải cách cơ cấu sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng duy trì đà tăng trưởng trong trung và dài hạn.

Ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) cho biết, Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã định hình lại mô hình tăng trưởng theo hướng lấy năng suất và công nghệ làm động lực cốt lõi, với mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% trong giai đoạn 2026 - 2030 và đưa GDP bình quân đầu người lên 8.500 USD vào năm 2030.

“Việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm Thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9 được kỳ vọng sẽ hỗ trợ dòng vốn đầu tư chảy vào thị trường” - ông Suan Teck Kin kỳ vọng.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế
Những rủi ro ảnh hưởng đà tăng của thị trường chứng khoán. Ảnh: UOB.

Bên cạnh những yếu tố hỗ trợ, các chuyên gia UOB cho rằng, môi trường kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều bất định. Những diễn biến liên quan đến chính sách thương mại, căng thẳng địa chính trị và biến động trên thị trường năng lượng có thể tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế và chi phí sản xuất.

Ông Suan Teck Kin chỉ rõ, tác động này thể hiện rõ qua cán cân ngoại thương khi căng thẳng tại Trung Đông làm gia tăng áp lực nhập khẩu. Cán cân thương mại trong 7 tháng đầu năm 2026 chuyển từ mức thặng dư 10,4 tỷ USD của cùng kỳ năm trước sang thâm hụt 20,5 tỷ USD, vượt cả mức thâm hụt kỷ lục theo năm là 18 tỷ USD được ghi nhận vào năm 2008.

Năng lượng là yếu tố đóng góp lớn nhất vào xu hướng này, khi khối lượng nhập khẩu nhiên liệu tinh chế giai đoạn tháng 1 - 7 chỉ tăng 6%, nhưng giá trị nhập khẩu lại tăng mạnh 67,6%.

Ở trong nước, nguy cơ chậm trễ trong giải ngân và triển khai đầu tư công cũng là yếu tố cần theo dõi.

FDI, thị trường vốn thêm lực đẩy, giảm phụ thuộc vào vốn ngân hàng

Để đáp ứng nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, theo Bộ Tài chính, Việt Nam sẽ cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD) vốn đầu tư giai đoạn 2026 - 2030.

Riêng năm tài khóa gần nhất, nhu cầu vốn khoảng 5,1 triệu tỷ đồng (khoảng 200 tỷ USD). Ngân sách Nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20% nhu cầu này.

Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu UOB (Singapore) cho rằng, nguồn vốn từ Chính phủ nên được xem là “vốn mồi”.

“Mặc dù hệ thống ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu 15% trong năm 2026, nhưng phần gia tăng vốn cho các dự án dài hạn không nên tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào ngân hàng” - ông Suan Teck Kin bày tỏ.

Đối với 80% nhu cầu vốn còn lại, phân tích kỹ từng kênh huy động, ông Suan Teck Kin cho rằng, kênh huy động truyền thống là hệ thống ngân hàng đang dần tiến tới giới hạn.

Bởi tỷ lệ tín dụng/GDP hiện ở mức cao kỷ lục khoảng 138%, trong khi tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) đạt 98,7%, dư địa cho vay thêm không còn nhiều.

“Năng lực vốn của hệ thống ngân hàng cũng là một thách thức” - ông Suan Teck Kin nêu rõ. Bởi theo dữ liệu Chỉ số An toàn tài chính của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tỷ lệ vốn cấp 1 (Tier 1 Capital Ratio) của ngành ngân hàng Việt Nam cuối năm 2025 ước 10,59%, thấp nhất nhóm ASEAN-6, so với khoảng 13% tại Philippines và 15% tại Malaysia.

Do đó, các nguồn vốn khác sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn.

Chuyên gia UOB cho rằng, FDI sẽ là một trong những nguồn vốn chủ đạo, nhưng Việt Nam cần chuyển sang giai đoạn “FDI 2.0”, tập trung thu hút các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn, đòi hỏi trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo cao hơn.

Thị trường cổ phiếu cũng sẽ là kênh huy động vốn quan trọng. Theo Liên đoàn Sở giao dịch chứng khoán thế giới (World Federation of Exchanges), vốn hóa doanh nghiệp niêm yết trên HOSE tăng 5,5 lần trong 10 năm, lên 339 tỷ USD, vượt Philippines (209 tỷ USD) và đứng thứ năm trong ASEAN-6. Việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán sẽ thu hút thêm dòng vốn đầu tư quốc tế.

Thị trường trái phiếu và dòng vốn tổ chức dài hạn là lĩnh vực Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển.

Việc thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) là bước đi có tầm nhìn dài hạn và cần thiết để phát triển thị trường tài chính và thị trường vốn trong nước.

Đánh giá tác động khi Việt Nam được nâng hạng, bà Thiều Thị Nhật Lệ - Tổng Giám đốc Công ty Quản lý quỹ UOBAM Việt Nam ước tính tổng dòng vốn thụ động trong 12 tháng tới khoảng 1,5 tỷ USD. Dòng vốn chủ động kỳ vọng sẽ lớn hơn. Trong ngắn hạn, dòng vốn ngoại này tạo thêm động lực cho thị trường và hỗ trợ tâm lý nhà đầu tư.

“Tác động lớn nhất và lâu dài của việc nâng hạng là sẽ thúc đẩy thị trường Việt Nam tiếp tục cải cách, thay đổi về cấu trúc, nâng cao chất lượng của thị trường để tiệm cận gần hơn nữa với các tiêu chuẩn quốc tế và các thị trường phát triển hơn trong khu vực” - bà Lệ bày tỏ./.

Dự báo Fed tăng lãi suất thêm 2 lần, nhận diện ba kênh tác động
với Việt Nam

Đánh giá quyết định nâng lãi suất lên 4% của Fed, ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho rằng, mặc dù Fed tăng lãi suất, hai thị trường quan trọng là ngoại hối và lãi suất tại Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định, chưa ghi nhận dấu hiệu găm giữ ngoại tệ hay đảo chiều dòng vốn.

“Đối với nhà đầu tư, tác động đầy đủ của quyết định này cần thêm thời gian để đánh giá. Điều quan trọng không chỉ là mức tăng 25 điểm cơ bản hiện tại, mà còn là liệu Fed có tiếp tục nâng lãi suất trong thời gian tới hay không, cũng như lộ trình chính sách trong năm 2027” - ông Quang bày tỏ.

Ông Suan Teck Kin cũng cho rằng, động thái này không gây bất ngờ khi đã được thị trường định giá từ trước. UOB dự báo Fed sẽ tăng lãi suất thêm hai lần, vào tháng 12/2026 và đầu năm 2027. Với các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, tác động chủ yếu được truyền dẫn qua đồng USD, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn dài và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư toàn cầu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

Tỷ giá USD hôm nay (14/9): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ 99 điểm trước quyết định lãi suất của Fed, BoJ và BoE

(TBTCO) - Sáng 14/9, tỷ giá trung tâm tăng 11 đồng lên 25.607 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng 0,09% lên 99,21 điểm. Lạm phát cơ bản Mỹ tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tăng lãi suất; Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cũng quyết định lãi suất trong tuần này.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (11/9): Tỷ giá trung tâm tăng trở lại, ECB nâng lãi suất lần 2 và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 11/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.596 đồng, USD tại các ngân hàng thương mại cũng đồng loạt đi lên, còn chỉ số DXY vượt 99 điểm. Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) vừa nâng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5%, lần tăng thứ hai năm nay, để ngỏ khả năng tiếp tục tăng lãi suất, trong bối cảnh giá dầu tiến sát 110 USD/thùng.
Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

(TBTCO) - Sáng 10/9, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng xuống 25.591 đồng, trong khi chỉ số DXY dao động quanh 98,79 điểm. Tâm điểm thị trường là cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), với kỳ vọng tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay, thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5% khi lạm phát khu vực đồng euro vượt 3%.
UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲130K 14,670 ▲130K
Trang sức 99.99 14,080 ▲130K 14,680 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▲18K 14,762 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▲18K 14,763 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▲18K 1,471 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▲18K 1,472 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▲18K 1,461 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 ▲1782K 144,653 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 ▲1350K 109,736 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 ▲1224K 99,508 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 ▼70434K 8,928 ▼79254K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 ▲1050K 85,335 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 ▼45401K 6,108 ▼54221K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cập nhật: 18/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18006 18280 18856
CAD 18045 18320 18939
CHF 30891 31268 31915
CNY 0 3842 3938
EUR 29219 29439 30519
GBP 33950 34340 35278
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14562 15149
SGD 19817 20099 20679
THB 696 759 812
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30