UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
aa

UOB nâng dự báo tăng trưởng, chỉ ra những biến số cần theo dõi

Trong đánh giá mới nhất về triển vọng kinh tế thế giới và Việt Nam, các chuyên gia UOB đã đưa ra những nhận định đáng chú ý về triển vọng tăng trưởng GDP, xu hướng tỷ giá, lãi suất, triển vọng thị trường chứng khoán và tác động đối với Việt Nam sau quyết định tăng lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed).

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế
Các chuyên gia UOB đưa ra những đánh giá mới nhất về triển vọng kinh tế Việt Nam. Ảnh: UOB.

Theo đánh giá của UOB, kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn cuối năm với nền tảng tăng trưởng vững chắc, được hỗ trợ bởi hoạt động sản xuất, xuất khẩu và đầu tư tiếp tục duy trì đà tích cực. Dự báo tăng trưởng năm 2026 của nhóm nghiên cứu UOB cũng được điều chỉnh tăng lên.

Điểm nhấn đáng chú ý là tiến độ triển khai các chương trình đầu tư và cải cách cơ cấu sẽ là một trong những yếu tố quan trọng quyết định khả năng duy trì đà tăng trưởng trong trung và dài hạn.

Ông Suan Teck Kin - Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) cho biết, Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đã định hình lại mô hình tăng trưởng theo hướng lấy năng suất và công nghệ làm động lực cốt lõi, với mục tiêu tăng trưởng bình quân 10% trong giai đoạn 2026 - 2030 và đưa GDP bình quân đầu người lên 8.500 USD vào năm 2030.

“Việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm Thị trường mới nổi thứ cấp từ ngày 21/9 được kỳ vọng sẽ hỗ trợ dòng vốn đầu tư chảy vào thị trường” - ông Suan Teck Kin kỳ vọng.

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế
Những rủi ro ảnh hưởng đà tăng của thị trường chứng khoán. Ảnh: UOB.

Bên cạnh những yếu tố hỗ trợ, các chuyên gia UOB cho rằng, môi trường kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều bất định. Những diễn biến liên quan đến chính sách thương mại, căng thẳng địa chính trị và biến động trên thị trường năng lượng có thể tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động thương mại quốc tế và chi phí sản xuất.

Ông Suan Teck Kin chỉ rõ, tác động này thể hiện rõ qua cán cân ngoại thương khi căng thẳng tại Trung Đông làm gia tăng áp lực nhập khẩu. Cán cân thương mại trong 7 tháng đầu năm 2026 chuyển từ mức thặng dư 10,4 tỷ USD của cùng kỳ năm trước sang thâm hụt 20,5 tỷ USD, vượt cả mức thâm hụt kỷ lục theo năm là 18 tỷ USD được ghi nhận vào năm 2008.

Năng lượng là yếu tố đóng góp lớn nhất vào xu hướng này, khi khối lượng nhập khẩu nhiên liệu tinh chế giai đoạn tháng 1 - 7 chỉ tăng 6%, nhưng giá trị nhập khẩu lại tăng mạnh 67,6%.

Ở trong nước, nguy cơ chậm trễ trong giải ngân và triển khai đầu tư công cũng là yếu tố cần theo dõi.

FDI, thị trường vốn thêm lực đẩy, giảm phụ thuộc vào vốn ngân hàng

Để đáp ứng nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai chữ số, theo Bộ Tài chính, Việt Nam sẽ cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 1,5 nghìn tỷ USD) vốn đầu tư giai đoạn 2026 - 2030.

Riêng năm tài khóa gần nhất, nhu cầu vốn khoảng 5,1 triệu tỷ đồng (khoảng 200 tỷ USD). Ngân sách Nhà nước chỉ có thể đáp ứng khoảng 20% nhu cầu này.

Giám đốc Khối Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu UOB (Singapore) cho rằng, nguồn vốn từ Chính phủ nên được xem là “vốn mồi”.

“Mặc dù hệ thống ngân hàng vẫn có thể tiếp tục tăng trưởng tín dụng theo mục tiêu 15% trong năm 2026, nhưng phần gia tăng vốn cho các dự án dài hạn không nên tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào ngân hàng” - ông Suan Teck Kin bày tỏ.

Đối với 80% nhu cầu vốn còn lại, phân tích kỹ từng kênh huy động, ông Suan Teck Kin cho rằng, kênh huy động truyền thống là hệ thống ngân hàng đang dần tiến tới giới hạn.

Bởi tỷ lệ tín dụng/GDP hiện ở mức cao kỷ lục khoảng 138%, trong khi tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) đạt 98,7%, dư địa cho vay thêm không còn nhiều.

“Năng lực vốn của hệ thống ngân hàng cũng là một thách thức” - ông Suan Teck Kin nêu rõ. Bởi theo dữ liệu Chỉ số An toàn tài chính của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), tỷ lệ vốn cấp 1 (Tier 1 Capital Ratio) của ngành ngân hàng Việt Nam cuối năm 2025 ước 10,59%, thấp nhất nhóm ASEAN-6, so với khoảng 13% tại Philippines và 15% tại Malaysia.

Do đó, các nguồn vốn khác sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn.

Chuyên gia UOB cho rằng, FDI sẽ là một trong những nguồn vốn chủ đạo, nhưng Việt Nam cần chuyển sang giai đoạn “FDI 2.0”, tập trung thu hút các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn, đòi hỏi trình độ công nghệ, đổi mới sáng tạo cao hơn.

Thị trường cổ phiếu cũng sẽ là kênh huy động vốn quan trọng. Theo Liên đoàn Sở giao dịch chứng khoán thế giới (World Federation of Exchanges), vốn hóa doanh nghiệp niêm yết trên HOSE tăng 5,5 lần trong 10 năm, lên 339 tỷ USD, vượt Philippines (209 tỷ USD) và đứng thứ năm trong ASEAN-6. Việc FTSE Russell nâng hạng thị trường chứng khoán sẽ thu hút thêm dòng vốn đầu tư quốc tế.

Thị trường trái phiếu và dòng vốn tổ chức dài hạn là lĩnh vực Việt Nam còn nhiều dư địa phát triển.

Việc thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) là bước đi có tầm nhìn dài hạn và cần thiết để phát triển thị trường tài chính và thị trường vốn trong nước.

Đánh giá tác động khi Việt Nam được nâng hạng, bà Thiều Thị Nhật Lệ - Tổng Giám đốc Công ty Quản lý quỹ UOBAM Việt Nam ước tính tổng dòng vốn thụ động trong 12 tháng tới khoảng 1,5 tỷ USD. Dòng vốn chủ động kỳ vọng sẽ lớn hơn. Trong ngắn hạn, dòng vốn ngoại này tạo thêm động lực cho thị trường và hỗ trợ tâm lý nhà đầu tư.

“Tác động lớn nhất và lâu dài của việc nâng hạng là sẽ thúc đẩy thị trường Việt Nam tiếp tục cải cách, thay đổi về cấu trúc, nâng cao chất lượng của thị trường để tiệm cận gần hơn nữa với các tiêu chuẩn quốc tế và các thị trường phát triển hơn trong khu vực” - bà Lệ bày tỏ./.

Dự báo Fed tăng lãi suất thêm 2 lần, nhận diện ba kênh tác động
với Việt Nam

Đánh giá quyết định nâng lãi suất lên 4% của Fed, ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cho rằng, mặc dù Fed tăng lãi suất, hai thị trường quan trọng là ngoại hối và lãi suất tại Việt Nam vẫn duy trì sự ổn định, chưa ghi nhận dấu hiệu găm giữ ngoại tệ hay đảo chiều dòng vốn.

“Đối với nhà đầu tư, tác động đầy đủ của quyết định này cần thêm thời gian để đánh giá. Điều quan trọng không chỉ là mức tăng 25 điểm cơ bản hiện tại, mà còn là liệu Fed có tiếp tục nâng lãi suất trong thời gian tới hay không, cũng như lộ trình chính sách trong năm 2027” - ông Quang bày tỏ.

Ông Suan Teck Kin cũng cho rằng, động thái này không gây bất ngờ khi đã được thị trường định giá từ trước. UOB dự báo Fed sẽ tăng lãi suất thêm hai lần, vào tháng 12/2026 và đầu năm 2027. Với các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam, tác động chủ yếu được truyền dẫn qua đồng USD, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn dài và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư toàn cầu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

Tỷ giá USD hôm nay 4/11: USD suy yếu, Úc tăng lãi suất lên 4,85% và Anh dự kiến thắt chặt

(TBTCO) - Sáng 4/11, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng, xuống 25.627 đồng; chỉ số DXY giảm 0,5% còn 101,38 điểm. Thị trường ngoại hối biến động trước tín hiệu chính sách từ các ngân hàng trung ương. Đô la Úc suy yếu dù Ngân hàng Dự trữ Úc (RBA) tăng lãi suất lên 4,85%, trong khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) được dự báo nâng lãi suất lên 4% vào ngày 5/11.
Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay 2/11: Giá bán USD tại ngân hàng dưới 26.000 đồng, DXY biến động nhẹ trước bầu cử giữa kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 2/11: Giá bán USD tại ngân hàng dưới 26.000 đồng, DXY biến động nhẹ trước bầu cử giữa kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 2/11, tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng, xuống 25.631 đồng; giá bán USD tại nhiều ngân hàng cùng dưới ngưỡng 26.000 VND/USD. Chỉ số DXY nhích 0,04%, lên 101,93 điểm. Thị trường thận trọng trước cuộc bầu cử giữa kỳ Mỹ ngày 3/11, cùng tín hiệu tích cực từ nỗ lực ngoại giao tại Trung Đông phần nào làm suy yếu nhu cầu nắm giữ USD.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/10: "Đảo chiều" bơm ròng hơn 28.000 tỷ đồng, USD biến động trái chiều sau tuần họp lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tuần qua, từ ngày 26 - 30/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước "đảo chiều" bơm ròng 28.161,7 tỷ đồng qua kênh OMO, khi lãi suất liên ngân hàng có thời điểm tăng sát 5%/năm. Trong khi đó, tỷ giá USD phân hóa sau quyết định lãi suất 5 ngân hàng trung ương.
Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

Tỷ giá USD hôm nay 30/10: USD đồng loạt giảm, DXY lùi dưới 102 điểm bất chấp chỉ số PCE Mỹ tăng lên 3,6%

(TBTCO) - Sáng 30/10, tỷ giá trung tâm giảm 7 đồng, còn 25.637 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,23%, về 101,64 điểm. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu tăng lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn, dù lạm phát Mỹ lên 3,6% trong tháng 9, củng cố kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay 29/10: USD trong nước đồng loạt tăng, Fed vẫn để ngỏ nâng lãi suất tháng 12

Tỷ giá USD hôm nay 29/10: USD trong nước đồng loạt tăng, Fed vẫn để ngỏ nâng lãi suất tháng 12

(TBTCO) - Sáng 29/10, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng, lên 25.644 đồng; USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên, trong khi DXY tăng nhẹ lên 102,15 điểm. Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,75% - 4%, song vẫn để ngỏ khả năng thắt chặt chính sách. Thị trường hiện dự báo 80% khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất vào tháng 12.
Tỷ giá USD hôm nay 28/10: USD trong nước giảm, DXY bật tăng trước giờ Fed công bố lãi suất và dữ liệu PCE Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 28/10: USD trong nước giảm, DXY bật tăng trước giờ Fed công bố lãi suất và dữ liệu PCE Mỹ

(TBTCO) - Sáng 28/10, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.631 đồng, giảm 2 đồng; tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi chỉ số DXY tăng 0,33%, lên 102,36 điểm. Thị trường kỳ vọng Fed giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp tháng 10, song vẫn chờ đợi tín hiệu chính sách và dữ liệu lạm phát Mỹ để xác định xu hướng đồng USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,300 ▲1700K 142,300 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,040 ▲100K 14,340 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲220K 14,300 ▲220K
Trang sức 99.9 13,580 ▲220K 14,180 ▲220K
Trang sức 99.99 13,590 ▲220K 14,190 ▲220K
Vàng 99.9 12,850 ▲200K
Vàng 99.99 13,000 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,404 ▲10K 14,342 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,404 ▲10K 14,343 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,386 ▲21K 1,426 ▲21K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,386 ▲21K 1,427 ▲21K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,366 ▲21K 1,416 ▲21K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,198 ▲2079K 140,198 ▲2079K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,561 ▲1576K 106,361 ▲1576K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,648 ▲1429K 96,448 ▲1429K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,735 ▲1281K 86,535 ▲1281K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,911 ▲1224K 82,711 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,403 ▲876K 59,203 ▲876K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,404 ▲10K 1,434 ▲10K
Cập nhật: 05/11/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17471 17744 18324
CAD 17870 18144 18760
CHF 30885 31262 31899
CNY 0 3807 3902
EUR 28289 28505 29582
GBP 33838 34227 35153
HKD 0 3142 3344
JPY 155 159 166
KRW 0 18 20
NZD 0 14189 14774
SGD 19579 19860 20426
THB 684 747 800
USD (1,2) 25415 0 0
USD (5,10,20) 25452 0 0
USD (50,100) 25479 25493 25858
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,493 25,493 25,873
USD(1-2-5) 24,474 - -
USD(10-20) 24,474 - -
EUR 28,341 28,364 29,716
JPY 158.13 158.42 168.05
GBP 34,017 34,109 35,306
AUD 17,687 17,751 18,427
CAD 18,062 18,120 18,793
CHF 31,147 31,244 32,174
SGD 19,694 19,755 20,536
CNY - 3,776 3,921
HKD 3,207 3,217 3,353
KRW 17.61 18.37 19.99
THB 731.74 740.78 792.83
NZD 14,205 14,337 14,770
SEK - 2,602 2,695
DKK - 3,802 3,937
NOK - 2,715 2,816
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,931.13 - 6,695.84
TWD 704.04 - 853.09
SAR - 6,724.01 7,084.69
KWD - 81,173 86,390
AED - 6,739 7,263
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,480 25,510 25,890
EUR 28,309 28,451 29,679
GBP 34,006 34,177 35,214
HKD 3,202 3,221 3,339
CHF 30,948 31,104 32,052
JPY 157.75 159.34 167.32
AUD 17,649 17,773 18,369
SGD 19,663 19,842 20,439
THB 736 751 788
CAD 18,019 18,146 18,744
NZD 14,227 14,780
KRW 18.54 20.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25500 25500 25860
AUD 17665 17765 18690
CAD 18048 18148 19162
CHF 31132 31162 32736
CNY 3789.6 3814.6 3950
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28448 28478 30203
GBP 34127 34177 35935
HKD 0 3300 0
JPY 159.09 159.59 170.11
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14296 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19730 19860 20583
THB 0 712.5 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,390 25,510 25,850
USD20 25,360 25,510 25,850
USD1 25,340 25,510 25,850
AUD 17,602 17,752 18,917
EUR 28,276 28,376 30,032
CAD 18,009 18,109 19,415
SGD 19,824 19,974 20,528
JPY 159.66 161.16 166.69
GBP 34,050 34,200 35,530
XAU 14,088,000 0 14,392,000
CNY 0 3,770 0
THB 0 748 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/11/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30