Thị trường tiền tệ tuần từ 17 - 21/6:

Thêm ngân hàng bán vàng online, tiếp tục khuyến khích giảm lãi suất cho vay

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua ghi nhận thêm nhiều đầu mối thực hiện bán vàng miếng online và qua đó, đã chấm dứt tình trạng xếp hàng dài mua vàng. Một động thái đáng chú ý khác với thị trường tiền tệ là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã họp để đốc thúc các giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, đồng thời tiếp tục khuyến khích các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay.
aa

Thêm đầu mối bán vàng online

Đầu tuần, thêm 2 ngân hàng là Agribank và BIDV tổ chức tiếp nhận đăng ký mua vàng trực tuyến trên trang web của ngân hàng này. Trước đó, vào ngày 12/6, Vietcombank đã trở thành đơn vị đầu tiên mở bán vàng miếng trực tuyến trên website của mình.

Cả BIDV và Agribank đều lưu ý, trong trường hợp quá giờ hẹn từ 30 phút mà khách hàng không đến giao dịch, ngân hàng sẽ hủy đăng ký để phục vụ khách hàng tiếp theo.

Thêm ngân hàng bán vàng online, tiếp tục khuyến khích giảm lãi suất cho vay
Giá vàng miếng trong nước đã giữ ổn định trong nhiều ngày. Ảnh: T.L
Bắt mạch thị trường tiền tệ từ diễn biến lãi suất liên ngân hàng Lãi suất huy động rục rịch tăng và diễn biến mới trên thị trường tiền tệ

Tiếp đó đến ngày 19/6, VietinBank cũng chính thức triển khai nhận đăng ký mua vàng miếng SJC trực tuyến trên website của VietinBank và ngừng phát số đăng ký trực tiếp tại các điểm bán. Ngân hàng này cho biết, khách hàng có thể truy cập website của VietinBank bằng các thiết bị điện tử cá nhân (điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính cá nhân…), sau đó nhấn vào banner “Đăng ký mua vàng SJC trực tuyến”.

Diễn biến giá vàng nhẫn tuần qua

Trong khi giá vàng miếng do các ngân hàng và Công ty SJC bán ra không biến động, thì giá vàng nhẫn có xu hướng giảm vào những ngày đầu tuần, nhưng nhích tăng vào cuối tuần.

Hôm đầu tuần, các công ty vàng niêm yết vàng nhẫn 9999 ở mức mua vào 73,3 triệu đồng/lượng, bán ra 74,9 triệu đồng/lượng. Đến chiều ngày 21/6, giá vàng nhẫn 9999 được niêm yết ở mức mua vào là 74,2 triệu đồng/lượng và bán ra ở mức 75,8 triệu đồng/lượng.

Sau chân VietinBank 1 ngày, Công ty SJC, từ ngày 20/6 cũng dừng phát số cho khách mua vàng miếng trực tiếp tại cửa hàng, mà chỉ bán cho khách đã đăng ký mua online. Khách mua vàng có thể đặt lịch mua và nhận vàng miếng theo địa điểm mong muốn và nhận được xác nhận lịch hẹn với thông tin về địa điểm, thời gian thực hiện giao dịch.

Về diễn biến thị trường, giá vàng SJC tham chiếu được NHNN công bố trong các ngày trong tuần đều giữ ở mức 75,98 triệu đồng/lượng và giá vàng các ngân hàng bán ra phổ biến ở mức 76,98 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tuần qua đã có nhịp phục hồi tăng, chiều ngày 21/6 ghi nhận mức 2.358 USD/ounce, tăng khoảng hơn 50 USD mỗi ounce so với 1 tuần trước đó.

Đánh giá về bối cảnh giá vàng trong nước từ khi NHNN triển khai giải pháp bán vàng qua ngân hàng, Chuyên gia kinh tế - TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, người dân nên tiếp tục theo dõi thị trường vàng, thận trọng khi tham gia giao dịch vàng. “Với quyết tâm, khả năng và nguồn lực của NHNN, chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới sẽ nhanh chóng được thu hẹp” -ông Hiếu nói.

Khuyến kích giảm thêm lãi suất cho vay

Tại Hội nghị trực tuyến toàn ngành về giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng năm 2024 diễn ra tuần qua, một trong những thông điệp được NHNN đưa ra là tiếp tục khuyến khích các ngân hàng tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay.

NHNN cho biết, thời gian tới sẽ khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; đồng thời, tiếp tục rà soát để sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Về tín dụng, đến giữa tháng 6/2024, tăng trưởng tín dụng tăng 3,79% so với cuối năm 2023; tốc độ tăng trưởng tín dụng cải thiện dần qua các tháng, doanh số tín dụng mà các tổ chức tín dụng đã cung ứng ra nền kinh tế trong gần 6 tháng đầu năm 2024 cao hơn doanh số của cùng kỳ 3 năm trước.

Tuy nhiên, tại một số địa phương tăng trưởng tín dụng còn thấp. Điều đó cho thấy về tổng thể cầu tín dụng trong nước chưa có sự phục hồi mạnh mẽ, nhiều ngành sản xuất, dịch vụ là các động lực truyền thống của nền kinh tế vẫn còn những khó khăn nhất định.

Ở góc độ ngân hàng thương mại, ông Phạm Như Ánh - Tổng giám đốc Ngân hàng MB cho biết, khi đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng, điều mà MB và các ngân hàng kỳ vọng nhất là sức hấp thụ của nền kinh tế. Ngoài ra, các ngân hàng đều có các giải pháp tổng hợp, không có giải pháp duy nhất nào để đảm bảo tăng trưởng tín dụng và hấp thụ thị trường.

Đến nay, các ngân hàng cũng đã giảm lãi suất sâu nhất trong vòng 10 năm trở lại đây và điều này có thể kích thích làm tăng nhu cầu tín dụng. Riêng với MB, ông Ánh cho biết, ngân hàng này vẫn có thể đạt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 15,5% trong năm 2024.

Thêm ngân hàng bán vàng online, tiếp tục khuyến khích giảm lãi suất cho vay
Ngành Ngân hàng kỳ vọng sẽ đẩy mạnh tín dụng hơn trong nửa cuối năm. Ảnh: T.L

Tỷ giá giữ nhịp ổn định

Tuần qua, NHNN tăng tỷ giá trung tâm trong ngày mở đầu tuần, nhưng sau đó giữ tỷ giá khá ổn định trong suốt tuần.

Cụ thể, tỷ giá trung tâm đầu tuần mới được công bố ở mức 24.259 đồng/USD, tăng 10 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước. Trong các ngày tiếp theo, NHNN không điều chỉnh quá nhiều tỷ giá qua từng ngày và đến hôm 21/6, công bố tỷ giá trung tâm ở mức 24.256 đồng/USD, chỉ giảm nhẹ 3 đồng mỗi Đô la so với hôm đầu tuần.

Tại ngân hàng thương mại, Vietcombank công bố tỷ giá bán ra hôm đầu tuần 17/6 ở mức 25.471 đồng/USD, cũng tăng khoảng 10 đồng mỗi Đô la so với cuối tuần trước. Trong các ngày tiếp theo, ngân hàng này điều chỉnh tỷ giá với mức độ thay đổi rất nhẹ và ngày 21/6 niêm yết tỷ giá bán ra ở mức 25.468 đồng/USD.

Theo thông tin từ Tổng cục Hải quan, cán cân thương mại kỳ 1, tháng 6 ghi nhận trạng thái xuất siêu, theo đó có sự thay đổi so với trạng thái nhập siêu trong tháng 5/2024.

Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu kỳ 1, tháng 6 ghi nhận 15,73 tỷ USD, giảm 10,4% so với kỳ trước; kim ngạch nhập khẩu là 15,4 tỷ USD, tăng 1,5% so với kỳ trước. Theo đó, cán cân thương mại kỳ 1 tháng 6 thặng dư 0,33 tỷ USD.

Trước đó trong tháng 5/2024, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 64,99 tỷ USD, tăng 6,5% so với tháng trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu là 32,27 tỷ USD, tăng 3,9% và trị giá nhập khẩu là 32,72 tỷ USD, tăng 9,1% so với tháng trước. Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong tháng 5/2024 thâm hụt 0,45 tỷ USD.

Lũy kế trong 5 tháng năm 2024, tổng trị giá xuất nhập khẩu cả nước đạt 303,94 tỷ USD, tăng 16%, tương ứng tăng gần 42 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, trị giá xuất khẩu 5 tháng/2024 là 156,28 tỷ USD, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu 5 tháng năm 2024 là 147,66 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2024, mức thặng dư thương mại hàng hóa là 8,62 tỷ USD, giảm 1,53 tỷ USD so với mức thặng dư 10,15 tỷ USD của cùng kỳ năm trước.

Kéo dài thời gian giãn, hoãn nợ cho khách hàng khó khăn

Trong tuần qua, ngày 18/6/2024, NHNN đã ban hành Thông tư 06/2024/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư 02/2023/TT-NHNN về cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn; kịp thời tháo gỡ khó khăn. Theo đó, NHNN cho phép kéo dài thời gian thực hiện chính sách tại Thông tư 02 thêm 6 tháng, tức đến hết ngày 31/12/2024.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 27/3: Giá vàng giảm về vùng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 27/3 đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch về quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng, với mức giảm phổ biến từ 2 đến hơn 4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi lên tính đến sáng ngày 26/3. Cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 170 - 175 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/3: Giá vàng đảo chiều tăng mạnh lên ngưỡng 170 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 25/3 đảo chiều tăng mạnh tại hầu hết doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến trở lại ngưỡng 167 - 170 triệu đồng/lượng sau phiên giảm sâu trước đó.
Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 24/3: Giá vàng trong nước “bốc hơi” 5 - 7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 24/3, giá vàng trong nước đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức giảm phổ biến 5 triệu đồng/lượng, có nơi giảm hơn 7 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 23/3: Giá vàng giao dịch quanh ngưỡng 168 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 23/3, giá vàng trong nước đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ nguyên giá, với mặt bằng giao dịch phổ biến quanh 168 - 171 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Kim TT/AVPL 17,090 ▲110K 17,390 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼50K 16,100 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,940 ▲140K 17,340 ▲140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,890 ▲140K 17,290 ▲140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,820 ▲140K 17,270 ▲140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 170,800 ▲1000K 173,800 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,080 ▲100K 17,380 ▲100K
NL 99.90 15,770 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▼50K
Trang sức 99.9 16,570 ▲100K 17,270 ▲100K
Trang sức 99.99 16,580 ▲100K 17,280 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,708 ▲10K 17,382 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,708 ▲10K 17,383 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,706 ▲10K 1,736 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,706 ▲10K 1,737 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,686 ▲10K 1,721 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,896 ▲990K 170,396 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,338 ▲750K 129,238 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,829 ▲68K 11,719 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,241 ▲610K 105,141 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,594 ▲583K 100,494 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,023 ▲417K 71,923 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,708 ▲10K 1,738 ▲10K
Cập nhật: 30/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17556 17829 18403
CAD 18424 18701 19321
CHF 32323 32706 33356
CNY 0 3470 3830
EUR 29691 29963 30996
GBP 34149 34539 35479
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14804 15392
SGD 19904 20186 20714
THB 718 782 835
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,355
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,771 29,795 31,027
JPY 160.12 160.41 169.04
GBP 34,253 34,346 35,316
AUD 17,711 17,775 18,332
CAD 18,596 18,656 19,227
CHF 32,552 32,653 33,418
SGD 20,005 20,067 20,724
CNY - 3,774 3,891
HKD 3,293 3,303 3,420
KRW 16.05 16.74 18.1
THB 760.85 770.25 819.11
NZD 14,759 14,896 15,242
SEK - 2,730 2,810
DKK - 3,984 4,099
NOK - 2,653 2,731
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,122.85 - 6,873.27
TWD 741.69 - 893
SAR - 6,895.92 7,218.79
KWD - 83,461 88,258
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,739 29,858 31,031
GBP 34,274 34,412 35,411
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,398 32,528 33,434
JPY 160.83 161.48 168.70
AUD 17,701 17,772 18,354
SGD 20,085 20,166 20,740
THB 779 782 816
CAD 18,612 18,687 19,249
NZD 14,847 15,374
KRW 16.71 18.32
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17684 17784 18710
CAD 18591 18691 19706
CHF 32529 32559 34145
CNY 3743.7 3768.7 3904.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29831 29830 31586
GBP 34371 34421 36174
HKD 0 3355 0
JPY 161.1 161.6 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14868 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20044 20174 20895
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16840000 16840000 17140000
SBJ 15000000 15000000 17140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,156 26,206 26,355
USD20 26,156 26,206 26,355
USD1 23,845 26,206 26,355
AUD 17,786 17,886 19,022
EUR 29,996 29,996 31,440
CAD 18,542 18,642 19,971
SGD 20,116 20,266 21,500
JPY 161.19 162.69 167.4
GBP 34,298 34,648 35,555
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 776 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80