Bắt mạch thị trường tiền tệ từ diễn biến lãi suất liên ngân hàng

Chí Tín
(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng đã thoát vùng đáy và có một số thời điểm ngược dòng tăng cao, tuy nhiên sau đó cũng có những thời điểm lại bất ngờ giảm trở lại. Động thái này cho thấy có thời điểm trạng thái “thừa tiền” của hệ thống ngân hàng tạm thời được giải tỏa, nhưng dòng tiền trên thị trường tiền tệ còn chịu nhiều tác động chi phối và khó xác định xu hướng.
aa
Bắt mạch thị trường tiền tệ từ diễn biến lãi suất liên ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng rà soát, giảm thiểu thủ tục hành chính tạo điều kiện có thể hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Ảnh: TL

Giảm bớt tình trạng “dồn ứ”

Trong giai đoạn quý III/2023, thị trường đối diện với tình trạng tiền dồn ứ trong ngân hàng, tín dụng khó khơi thông và một trong những biểu hiện của hiện trạng này là lãi suất trên thị trường liên ngân hàng đã giảm về mặt bằng “siêu thấp”.

Tuy nhiên, động thái thị trường trong giai đoạn từ tháng 10 trở lại đây cho thấy tình trạng dồn ứ tiền đã phần nào được giải tỏa. Trong đó, một trong những thông điệp có thể quan sát được là diễn biến tăng lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng trong một số thời điểm cuối tháng 10/2023.

Cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng một số ngày đã lên mức 2,74%. Mức lãi suất này tuy vẫn còn thấp hơn nhiều so với trần lãi suất 5% theo quy định tại Quyết định số 1123/ QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 (về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ), nhưng đã cao hơn hẳn so với giai đoạn siêu thấp hồi tháng 9/2023. Khi đó, lãi suất cho vay qua đêm có thời điểm chỉ còn 0,17%.

Ngoài diễn biến tại thị trường liên ngân hàng, một thông điệp khác cho thấy tình trạng dồn ứ vốn cũng phần nào được giải tỏa bởi tăng trưởng dụng có phần nhúc nhích hơn chút ít trong tháng 10. Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tính đến cuối tháng 10/2023, tín dụng toàn nền kinh tế đã tăng được 7,1% so với cuối năm ngoái. Tốc độ này tuy vẫn được đánh giá là thấp so với năm ngoái, nhưng dòng vốn trong ngân hàng cũng đã có biểu hiện khơi thông hơn so với giai đoạn từ khoảng giữa tháng 9 trở về trước.

Cụ thể, tính đến giữa tháng 9/2023, tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 12,6 triệu tỷ đồng, tăng trưởng 5,56% (bình quân tăng gần 0,59% mỗi tháng), nhưng trong 1,5 tháng từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 10 đã tăng 1,54%. Tính bình quân tháng trong giai đoạn kể từ giữa tháng 9 đến nay theo đó đã đạt được tốc độ khoảng gần 1,03% mỗi tháng, gần xấp xỉ với tốc độ tăng trưởng bình quân tháng của 2 năm năm gần đây. Tăng trưởng tín dụng bình quân tháng năm 2022 đạt khoảng hơn 1,1%/tháng và của năm 2021 là khoảng 1,07%/tháng.

Vẫn tồn tại những yếu tố đan xen chi phối

Lãi suất thị trường liên ngân hàng mặc dù có thời điểm tăng, nhưng diễn biến chung cho thấy mặt bằng lãi suất đang chịu khá nhiều yếu tố đan xen và biến động trồi sụt không ổn định. Sau khi tăng trong một số ngày cuối tháng 10, thị trường liên ngân hàng lại đảo chiều giảm lãi suất với mặt bằng lãi suất cho vay qua đêm trong những ngày gần đây lại về quanh mốc khoảng trên dưới 1%.

Trên thị trường mở, trong những ngày gần đây, NHNN vẫn tiếp tục thực hiện các đợt phát hành tín phiếu, động thái này thường tác động giảm cung tiền trên thị trường liên ngân hàng. Tuy nhiên, tính chất của thị trường mở giai đoạn hiện nay cũng có nhiều điểm khác so với thời điểm giữa tháng 9. Bởi lẽ, hiện tại lượng tín phiếu được NHNN phát hành giai đoạn nửa cuối tháng 9 và đầu tháng 10 đến nay cũng đã đến thời điểm thanh toán.

Trong khi đó, nhiều yếu tố hiện tại trên thị trường cũng có tính chất ngắn hạn, tức có thể có những diễn biến thay đổi nhanh. Ông Trần Ngọc Báu, Tổng giám đốc Công ty WiGroup cho biết, trạng thái hiện tại của dòng vốn ngân hàng tuy vẫn dư cung, nhưng cũng chỉ là dư thừa tạm thời. Có nghĩa là trong ngắn hạn thì ngân hàng đang thừa vốn, nhưng trong dài hạn thì vẫn có thể thiếu vốn.

Ngoài ra ở góc độ thị trường quốc tế, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) trong cuộc họp gần đây nhất đầu tháng 11 vẫn giữ nguyên lãi suất. Theo đó, lãi suất tham chiếu tại Mỹ hiện vào khoảng 5,25 - 5,5%, vẫn giữ nguyên trong 2 lần họp liên tiếp không tăng lãi suất sau một chuỗi tăng lãi suất liên tục.

Lãi suất của FED tuy được cho là ít có ảnh hưởng trực tiếp với lãi suất trong nước, thể hiện ở những giai đoạn lãi suất 2 thị trường biến động ngược chiều, nhưng động lãi suất của FED nếu kéo dài có thể ảnh hưởng gián tiếp qua tỷ giá.

Về phía NHNN, vừa qua tại diễn đàn Quốc hội, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cũng đã tiết lộ cho biết, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm được 2,2% so với thời điểm cuối năm 2022. Thông tin này cho thấy lãi suất cho vay đang trong chu kỳ tiếp tục giảm thấp hơn, bởi thông tin NHNN đưa ra cách đây 1 tháng thì mặt bằng lãi suất cho vay lúc đó thấp hơn khoảng 1,5 - 2% so với cuối năm 2022.

Tiếp tục điều phối tăng trưởng tín dụng

Về định hướng điều hành thời gian tới, ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết sẽ vẫn tiếp tục điều phối về tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống, cũng như của các tổ chức tín dụng để có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Đồng thời, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng rà soát, làm sao giảm thiểu thủ tục hành chính cũng như hồ sơ vay vốn để rút ngắn quá trình xem xét tín dụng, tạo điều kiện có thể hỗ trợ về tín dụng đối với doanh nghiệp và người dân.

Chí Tín

Đọc thêm

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80