Lãi suất huy động rục rịch tăng và diễn biến mới trên thị trường tiền tệ

Chí Tín
(TBTCO) - Gần đây một số ngân hàng có động thái rục rịch tăng lãi suất huy động. Tuy nhiên, đây cũng là một diễn biến thông thường trong cán cân cung cầu vốn của nền kinh tế.
aa
Lãi suất huy động rục rịch tăng và diễn biến mới trên thị trường tiền tệ
Động thái tăng lãi suất của nhiều ngân hàng là tâm điểm đáng chú ý trên thị trường tiền tệ. Ảnh tư liệu

Nhiều ngân hàng tăng lãi suất

Những ngày qua, rục rịch nhiều ngân hàng đã có động thái tăng lãi suất huy động. ACB là một trong những ngân hàng vừa có thông báo điều chỉnh tăng lãi suất huy động trực tuyến, với mức mức tăng khoảng 0,2% với các kỳ hạn từ 1 - 3 tháng. Theo đó, tiền gửi dưới 200 triệu đồng được ngân hàng này huy động với lãi suất kỳ hạn từ 1 đến 3 tháng lần lượt được niêm yết ở mức 2,5% - 2,7% - 2,9%/năm.

Ngoài ra, Bac A Bank đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở nhiều kỳ hạn, với mức tăng từ 0,15 - 0,4%/năm. Theo biểu lãi suất huy động mới nhất do Bac A Bank ban hành, áp dụng cho tài khoản tiết kiệm dưới 1 tỷ đồng, lãi suất kỳ hạn 1 - 11 tháng đồng loạt tăng 0,15%/năm. Lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 12 - 13 tháng được tăng thêm 0,25%/năm, lên 4,85%/năm. Lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 15 và 18 tháng cùng tăng thêm 0,15%/năm, lần lượt được niêm yết ở mức 5,05%/năm và 5,25%/năm.

Trước đó trong tháng 4, một số ngân hàng cũng đã tăng lãi suất huy động như: HDBank, MSB, VPBank, KienlongBank, GPBank, OceanBank, BVBank, PVComBank.

Sau tăng lãi suất, danh sách ngân hàng đứng đầu với lãi suất cao nhất có nhiều thay đổi so với đầu tháng 4/2024. Hiện nay, lãi suất cao nhất kỳ hạn 1 tháng thuộc về NCB, với mức 3,1%/năm; lãi suất cao nhất kỳ hạn 6 tháng thuộc về KienlongBank, với 4,5%/năm; lãi suất cao nhất kỳ hạn 12 tháng thuộc về OceanBank, với 5,3%/năm…

Ngoài các mức lãi suất cho khách hàng thông thường, một số ngân hàng còn đưa ra các mức lãi suất vượt trội hơn, nhưng kèm theo điều kiện có phần “thách đố”, chẳng hạn yêu cầu số tiền gửi phải lên tới 200 tỷ đồng. Cá biệt có ngân hàng đưa ra mức lãi suất tiền gửi 12 và 13 tháng lên tới 9,5%/năm, nhưng yêu cầu về số tiền gửi tối thiểu 2.000 tỷ đồng.

Tăng, nhưng chưa cao

Lãi suất huy động rục rịch tăng và diễn biến mới trên thị trường tiền tệ

Động thái tăng lãi suất của nhiều ngân hàng đang là tâm điểm đáng chú ý trên thị trường tiền tệ và điều đặc biệt là làn sóng đang lan rộng ra nhiều ngân hàng chứ không chỉ ở một vài ngân hàng.

Diễn biến tại thị trường liên ngân hàng thời gian qua cũng cho thấy nhu cầu thanh khoản của hệ thống ngân hàng cũng đang có xu hướng gia tăng. Lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng hiện đã lên mức 4,6%/năm. Đây là mặt bằng suất cao hơn rất nhiều so với thời điểm đáy hồi cuối tháng 3 khi có lúc lãi suất qua đêm về chỉ còn 0,13%/năm.

Ngoài ra, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cũng liên tục bơm tiền qua thị trường mở và có những phiên khối lượng bơm tiền cũng khá lớn. Trong đó, một số phiên có khối lượng bơm tiền rất lớn, chẳng hạn như phiên 23/4 bơm 36 nghìn tỷ đồng; phiên 24 và 25/4 mỗi phiên bơm 25 nghìn tỷ đồng; phiên 26/4 là hơn 23 nghìn tỷ đồng…

Mặc dù vậy, việc các ngân hàng gia tăng nhu cầu vốn cũng là quy luật hợp lý bởi 3 tháng đầu năm tín dụng tăng trưởng rất chậm (đặc biệt tăng trưởng âm trong 2 tháng đầu năm), khiến vốn huy động dư thừa trong giai đoạn này. Tuy nhiên, nhu cầu tăng tốc cho vay trong thời gian tới là rất lớn bởi hiện tại, NHNN vẫn giữ nguyên mục tiêu về tốc độ tăng trưởng tín dụng cả năm 15% như đã đề ra hồi đầu năm. Trong khi đó với số liệu của NHNN về tăng trưởng tín dụng đến cuối tháng 3/2024 là 1,34% so với cuối năm 2023, thì nhu cầu vốn để các ngân hàng bơm vào nền kinh tế cho phần còn lại của năm là khá lớn, tương ứng với mức tăng trưởng thêm là 13,66% dành cho 9 tháng cuối năm.

Trong khi đó, diễn biến lãi suất huy động thời gian qua tuy có xu hướng tăng, nhưng trên cơ sở nền lãi suất rất thấp thời kỳ đầu năm 2024. Theo đó, mặt bằng lãi suất huy động sau khi đã tăng cũng chỉ ở mức phổ biến khoảng 4% với kỳ hạn 6 tháng và chỉ quanh mốc 5% với kỳ hạn 12 tháng. Mặt bằng này vẫn thấp hơn so với mặt bằng lãi suất huy động giai đoạn quý III/2023, là thời điểm sau khi NHNN đã thực hiện 4 lần giảm lãi suất điều hành hồi đầu năm 2023. Theo đó với bối cảnh hiện tại, thị trường nếu không xuất hiện thêm các yếu tố mới có tính chất bất thường thì cũng chưa đủ gây áp lực buộc NHNN phải điều chỉnh tăng lãi suất điều hành.

Trong nội dung phát biểu tại thời điểm cuối tháng 4 tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2024 với chủ đề "Gỡ khó về vốn và thị trường cho doanh nghiệp xuất khẩu", Phó Thống đốc Thường trực NHNN Đào Minh Tú cũng vẫn khẳng định NHNN chưa đặt vấn đề điều chỉnh lãi suất điều hành và đang khuyến khích các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay, nhất là ở các lĩnh vực ưu tiên.

Trong khi đó ở góc độ chuyên gia độc lập, ông Tim Leelahaphan - Chuyên gia kinh tế Thái Lan và Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered cho biết, Việt Nam đang nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút đầu tư nước ngoài nhờ môi trường đầu tư thuận lợi.

Theo ông Tim, chính sách tiền tệ với đồng Việt Nam sẽ được cân bằng dựa trên những cải thiện từ yếu tố bên ngoài và dự trữ ngoại hối. Tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ sẽ hỗ trợ cho tiền tệ trong khi nhập khẩu cũng được cải thiện và chuyên gia của Standard Chartered dự báo thặng dư tài khoản vãng lai sẽ đạt 3,5% GDP vào năm 2024.

Áp lực từ bên ngoài có phần dịu bớt

Các yếu tố bên ngoài cũng đang có phần dịu bớt đối với thị trường tiền tệ trong nước, trong đó đáng chú ý là diễn biến cuộc họp của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) vừa kết thúc đầu tháng 5/2024. Kết quả, FED vẫn giữ nguyên lãi suất cơ bản và điều này không gây bất ngờ với giới tài chính quốc tế, nhưng thông điệp đáng chú ý được FED đưa ra trong cuộc họp lần này cho thấy FED đã phủ nhận khả năng sẽ tăng lãi suất. Trong khi đó, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của USD cũng có phần dịu bớt so với thời kỳ đỉnh thiết lập hồi tháng 4/2024, nay đã lùi về mức khoảng hơn 105 điểm.

Chí Tín

Đọc thêm

Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

(TBTCO) - Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, OCB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 2.470 tỷ đồng, tăng 30,5% so với cùng kỳ. Kết quả được hỗ trợ bởi nguồn thu ngoài lãi tăng 78%, trong khi lãi thuần duy trì đà tăng nhờ tín dụng tiếp tục mở rộng. Dư nợ thị trường 1 của OCB đạt 227.554 tỷ đồng, cao hơn mức tăng toàn ngành.
HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

HDBank lập kỷ lục với khoản vay xã hội, bền vững hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay tại Việt Nam

(TBTCO) - Khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD mà HDBank ký kết ngày 30/7 đã thiết lập một dấu mốc mới trên thị trường vốn Việt Nam. Đây là khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế lớn nhất từ trước tới nay do một tổ chức Việt Nam huy động thành công, đồng thời khẳng định niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với HDBank và triển vọng phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

(TBTCO) - Đánh giá thị trường vàng, đá quý vừa qua diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người dân, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang đề nghị Quốc hội giám sát làm rõ trách nhiệm về quản lý thị trường vàng, từ đó làm căn cứ hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng khung xử phạt với các hành vi làm giả vàng, đá quý.
Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 76 USD/ounce lên 4.094 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng điều chỉnh tăng trở lại.
Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

Cho vay tăng mạnh 37% giúp NCB lãi hơn 700 tỷ đồng, tạo đà hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại

(TBTCO) - Ngân hàng NCB báo lãi sau thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 726,7 tỷ đồng, tăng 57% cùng kỳ, trong đó quý II lập kỷ lục với hơn 510 tỷ đồng. Cùng kết quả kinh doanh khởi sắc, tín dụng tăng 37% đưa dư nợ cho vay khách hàng lên hơn 133.500 tỷ đồng, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch, đưa ngân hàng tiến gần mục tiêu hoàn thành sớm phương án cơ cấu lại.
Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2026 của Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) đạt 290,5 tỷ đồng, tăng 17,1% cùng kỳ, nhờ hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gộp trên 257 tỷ đồng. Tổng công ty duy trì danh mục đầu tư tài chính gần 6.400 tỷ đồng, phân bổ đa dạng nhằm tối ưu hiệu quả đầu tư và quản trị rủi ro.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 ▲1800K 143,000 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▲150K 14,320 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲50K
Trang sức 99.9 13,510 ▲150K 14,210 ▲150K
Trang sức 99.99 13,520 ▲150K 14,220 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,392 ▲15K 14,322 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,392 ▲15K 14,323 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,387 ▲15K 1,427 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,387 ▲15K 1,428 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 ▲15K 1,407 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 ▲1485K 139,307 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 ▲86410K 105,686 ▲95230K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 ▲1021K 95,836 ▲1021K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 ▲68659K 85,986 ▲77479K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 ▲874K 82,186 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 ▲626K 58,828 ▲626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 ▲15K 1,432 ▲15K
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17901 18175 18750
CAD 18206 18482 19099
CHF 31911 32292 32926
CNY 0 3850 3942
EUR 29601 29822 30900
GBP 34527 34919 35856
HKD 0 3217 3419
JPY 156 160 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15100 15685
SGD 19910 20192 20767
THB 701 764 817
USD (1,2) 25993 0 0
USD (5,10,20) 26034 0 0
USD (50,100) 26063 26072 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,079 26,079 26,459
USD(1-2-5) 25,036 - -
USD(10-20) 25,036 - -
EUR 29,652 29,676 30,995
JPY 159.2 159.49 169.11
GBP 34,708 34,802 36,012
AUD 18,112 18,177 18,863
CAD 18,393 18,452 19,128
CHF 32,159 32,259 33,217
SGD 20,036 20,098 20,892
CNY - 3,818 3,963
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.9 17.62 19.17
THB 749.01 758.26 811.76
NZD 15,084 15,224 15,676
SEK - 2,705 2,800
DKK - 3,977 4,117
NOK - 2,704 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,006.63 - 6,778.77
TWD 731.72 - 886.37
SAR - 6,876.19 7,242.45
KWD - 83,066 88,376
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,070 26,095 26,475
EUR 29,717 29,836 31,032
GBP 34,756 34,896 35,929
HKD 3,283 3,296 3,413
CHF 32,055 32,184 33,119
JPY 159.63 160.27 168.23
AUD 18,136 18,209 18,807
SGD 20,126 20,207 20,801
THB 767 770 806
CAD 18,421 18,495 19,078
NZD 15,183 15,730
KRW 17.52 19.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26460
AUD 18092 18192 19118
CAD 18382 18482 19498
CHF 32136 32166 33752
CNY 3830.5 3855.5 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29775 29805 31533
GBP 34817 34867 36628
HKD 0 3355 0
JPY 159.91 160.41 170.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15199 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20069 20199 20925
THB 0 730.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,500
USD20 26,050 26,150 26,554
USD1 26,000 26,150 26,604
AUD 18,149 18,249 19,368
EUR 29,597 29,697 31,366
CAD 18,340 18,440 19,754
SGD 20,161 20,311 20,877
JPY 160.58 162.08 167.68
GBP 34,738 34,888 36,059
XAU 13,768,000 0 14,172,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/07/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80