Thị trường vốn Việt Nam cần thêm những mảng màu xanh

Dương An
Khối Nghiên cứu Toàn cầu HSBC vừa phát hành báo cáo "ESG - những bước đi đầu cho một thị trường cận biên châu Á", tập trung xem xét những xu hướng về môi trường, xã hội và quản trị (ESG) tại Việt Nam, nơi đang đối mặt với những thách thức từ biến đổi khí hậu.
aa

ESG

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam là một trong năm quốc gia có khả năng chịu ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu nhiều nhất do phần lớn dân số sống ở các vùng trũng ven biển. Ước tính, biến đổi khí hậu sẽ làm giảm thu nhập quốc dân của đất nước lên tới 3,5% vào năm 2050; 37% dân số sống ở các vùng trũng, vốn chỉ chiếm 15% diện tích đất của cả nước.

Việt Nam cũng là một trong những nền kinh tế tập trung carbon nhất tại châu Á, sau Trung Quốc và Mông Cổ. Việt Nam phát hành trái phiếu xanh lần đầu vào năm 2019 thông qua Nghị định 163 của Chính phủ. Điều này tạo ra các kênh huy động vốn phục vụ việc bảo vệ môi trường thay vì chỉ dựa vào nguồn tài trợ duy nhất từ ngân hàng.

Ông Wai-Shin Chan - Giám đốc Trung tâm Biến đổi Khí hậu và Giám đốc Toàn cầu về Nghiên cứu ESG của HSBC khẳng định: "Các nhà đầu tư sẽ đòi hỏi cao hơn từ các doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phát thải nhiều carbon, họ cần suy nghĩ lại về các mô hình và chiến lược kinh doanh; đối với các ngành công nghiệp, cần có các giải pháp giảm thải carbon cải tiến hơn; đối với tất cả các phân khúc của nền kinh tế, cần chuẩn bị cho các tác động của biến đổi khí hậu".

Như vậy, rõ ràng là chữ "E" trong ESG có tầm quan trọng hàng đầu đối với đất nước vốn đã quá quen với các mối đe dọa từ biến đổi khí hậu như thiệt hại do lũ lụt và bão gây ra.

Tuy nhiên, các yếu tố "S" và "G" của ESG cũng ngày càng quan trọng với Việt Nam, thị trường cận biên đang bắt đầu bắt kịp các yếu tố quản trị và xã hội. Nhiều nhà đầu tư sẽ ngạc nhiên khi biết rằng quốc gia này đã có bộ quy tắc quản trị doanh nghiệp chi tiết và đang đi đúng hướng với việc đáp ứng khá nhiều trong số 17 mục tiêu SDG của Liên Hợp Quốc, báo cáo cho biết.

Quản trị doanh nghiệp là một phần không tách rời trong khung ESG, quyết định các quy định, thông lệ và quy trình qua đó một công ty được kiểm soát và chỉ đạo nhằm đạt được cân bằng lợi ích của các bên liên quan. Việt Nam đã có những chính sách và quy định hướng tới những biện pháp quản trị tối thiểu một công ty phải có. Trong khi mỗi quốc gia định nghĩa bộ quy tắc quản trị doanh nghiệp một khác, cách tiếp cận chung vẫn tương tự cho các quốc gia.

Để duy trì tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, Việt Nam sẽ cần phát triển thị trường vốn và vốn nước ngoài đóng vai trò quan trọng. Việc tăng vốn đầu tư nước ngoài sẽ buộc các công ty tập trung nhiều hơn vào yếu tố bền vững, qua đó giúp gắn các hoạt động ESG vào hoạt động chung của doanh nghiệp.

Với tầm quan trọng ngày càng tăng của việc đầu tư vào ESG, các doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ chịu áp lực lớn hơn trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn ESG, tập trung vào tăng trưởng bền vững và công bố nhiều hơn về các vấn đề ESG.

Về cốt lõi, nhiệm vụ của các nhà đầu tư là xem xét sự tăng trưởng, rủi ro, chi phí vốn và tìm cách cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận tốt nhất có thể. Đối với đầu tư ESG, lợi nhuận cần được hiểu theo quan điểm của các bên liên quan khác nhau - chủ sở hữu công ty, nhân viên, người mua và nhà cung cấp, khách hàng và cộng đồng chịu tác động bởi doanh nghiệp - chứ không chỉ các nhà đầu tư chứng khoán.

Khái niệm này hiện phổ biến tại các thị trường phát triển. Ví dụ, ở Mỹ, mức đầu tư ESG hiện tại là hơn 20% tổng số tài sản được quản lý chuyên nghiệp, lên tới hơn 11 nghìn tỷ USD; ở Châu Âu, hiện con số này hơn 17 nghìn tỷ USD. Các cuộc khảo sát cho thấy rằng các nhà đầu tư tổ chức và các nhà quản lý tài sản chuyên nghiệp tìm cách sử dụng ESG chủ yếu để cạnh tranh lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro và quản trị rủi ro.

Đây cũng là làn sóng mới ở châu Á - Thái Bình Dương. Theo MSCI, 79% nhà đầu tư ở châu Á - Thái Bình Dương đã tăng đầu tư vào ESG một cách đáng kể vào năm 2020 nhằm đối phó với những bất ổn của dịch Covid-19 và 57% có kế hoạch đưa ESG ở mức độ lớn hơn vào phân tích và quy trình quyết định đầu tư của họ vào cuối năm 2021.

Dương An

Dương An

Đọc thêm

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
Kim TT/AVPL 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 14,950 ▲150K 15,150 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 14,900 ▲150K 15,100 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,750 ▲150K 16,150 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,700 ▲150K 16,100 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,630 ▲150K 16,080 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,000 ▲1000K 163,000 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 160,000 ▲1000K 163,000 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 160,000 ▲1000K 163,000 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 160,000 ▲1000K 163,000 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 160,000 ▲1000K 163,000 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 160,000 ▲1000K 163,000 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,980 ▲130K 16,280 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,980 ▲130K 16,280 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,980 ▲130K 16,280 ▲130K
NL 99.90 14,600 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650 ▲50K
Trang sức 99.9 15,470 ▲130K 16,170 ▲130K
Trang sức 99.99 15,480 ▲130K 16,180 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 160 ▲1K 16,302 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 160 ▲1K 16,303 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,595 ▲1437K 1,625 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,595 ▲1437K 1,626 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,575 ▲1419K 161 ▼1434K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,906 ▲1485K 159,406 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,012 ▲1125K 120,912 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,741 ▲1020K 109,641 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,947 ▼79608K 9,837 ▼87618K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,122 ▲874K 94,022 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,394 ▲626K 67,294 ▲626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 160 ▲1K 163 ▲1K
Cập nhật: 21/05/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18259 18535 19110
CAD 18624 18901 19518
CHF 32861 33246 33881
CNY 0 3836 3928
EUR 30010 30283 31310
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15149 15736
SGD 20071 20354 20875
THB 723 786 839
USD (1,2) 26100 0 0
USD (5,10,20) 26142 0 0
USD (50,100) 26170 26190 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,238 30,262 31,522
JPY 161.93 162.22 171
GBP 34,904 34,998 36,007
AUD 18,569 18,636 19,226
CAD 18,876 18,937 19,518
CHF 33,196 33,299 34,091
SGD 20,265 20,328 21,009
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,308 3,318 3,437
KRW 16.25 16.95 18.33
THB 774.91 784.48 834.53
NZD 15,178 15,319 15,681
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,046 4,165
NOK - 2,805 2,893
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,244.16 - 7,008.46
TWD 756.47 - 911.12
SAR - 6,927.21 7,254.01
KWD - 83,872 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26391
AUD 18428 18528 19451
CAD 18814 18914 19928
CHF 33119 33149 34732
CNY 3819.5 3844.5 3980
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30206 30236 31961
GBP 34923 34973 36733
HKD 0 3355 0
JPY 162.46 162.96 173.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15250 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20238 20368 21094
THB 0 753 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16050000 16050000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,195 26,245 26,391
USD20 26,195 26,245 26,391
USD1 23,879 26,245 26,391
AUD 18,554 18,654 19,776
EUR 30,370 30,370 31,796
CAD 18,775 18,875 20,195
SGD 20,327 20,477 21,400
JPY 162.97 164.47 169.11
GBP 34,837 35,187 36,315
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/05/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80