Vực dậy các “ngân hàng 0 đồng” từ năm 2022

Chí Tín
(TBTCO) - Đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết sẽ hoàn thành đề án trong năm 2022 để vực dậy các ngân hàng yếu kém đã bị mua bắt buộc 0 đồng hồi năm 2015. Trong đó, việc thực hiện sửa đổi Thông tư số 08 về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt cũng là một trong những giải pháp để hoàn thiện hơn cơ sở pháp lý cho việc tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém này.
aa

Sẽ có đề án riêng trong năm 2022

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lấy ý kiến dự thảo thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2021/TT-NHNN ngày 6/7/2021 quy định về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.

Vực dậy các “ngân hàng 0 đồng” từ năm 2022

Các ngân hàng yếu kém bị mua bắt buộc 0 đồng từ giai đoạn 2015 vẫn là mối quan tâm của giới tài chính trong thời gian qua.

Dự thảo thông tư quy định việc cho vay đặc biệt với lãi suất ưu đãi đến mức 0% đối với ngân hàng thương mại đã được mua bắt buộc trước ngày Luật số 17/2017/QH14 có hiệu lực theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật số 17/2017/QH14 (Luật số 17/2017/QH14 là văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng).

Theo chia sẻ mới đây của ông Nguyễn Tuấn Anh - Phó Chánh thanh tra, Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu từng ngân hàng trong diện kiểm soát đặc biệt lập đề án căn cứ trên đề án chung và thực trạng hoạt động của ngân hàng. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ có các giải pháp tổng thể, trong đó giải pháp cho vay đặc biệt chỉ là một trong những giải pháp của Ngân hàng Nhà nước đối với những ngân hàng này trong thời gian tới. “Dự kiến ngay trong năm 2022, các ngân hàng mua bắt buộc 0 đồng sẽ sớm đẩy nhanh việc tái cơ cấu” - ông Tuấn Anh tiết lộ thêm.

Các ngân hàng yếu kém bị mua bắt buộc 0 đồng từ giai đoạn 2015 vẫn là mối quan tâm của giới tài chính trong thời gian qua trong hoạt động tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng này bao gồm Ngân hàng Xây dựng (VNCB), Ngân hàng Đại Dương (Ocean Bank) và Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank).

Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa có các quyết định bổ sung nội dung hoạt động “ủy thác, nhận ủy thác” cho 2 trong số 3 ngân hàng 0 đồng là GPBank và Ocean Bank. Đây cũng có thể coi là một trong những tia sáng tích cực trong chặng đường vượt dốc của nhóm các ngân hàng đặc biệt này. Theo đánh giá của lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vừa qua, 3 ngân hàng 0 đồng đều đang xây dựng đề án tái cơ cấu với xu hướng tích cực, các ngân hàng đến nay cơ bản vẫn đảm bảo thanh khoản, kiểm soát được các hoạt động chung để đảm bảo an toàn hệ thống.

Giải pháp riêng nằm trong giải pháp chung

Trở lại bức tranh chung về các ngân hàng 0 đồng. Đây đều là các ngân hàng bị mua bắt buộc để tái cơ cấu trong năm 2015.

Trong đó, VNCB là ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam bị Ngân hàng Nhà nước thu mua lại bắt buộc toàn bộ số cổ phần với mức giá 0 đồng kể từ ngày tháng 2/2015. VNCB là tiền thân của ngân hàng Đại Tín, vào cuối năm 2012. Ngân hàng này bị liệt kê vào danh sách 9 ngân hàng yếu kém với mức lỗ lũy kế 8.765 tỷ đồng. Đến cuối năm 2013, con số này đã lên đến 11.348 tỷ đồng và tăng đến 27.000 tỷ đồng vào cuối năm 2014. Trước thời điểm bị mua lại, VNCB đã có tổng cộng 551 cổ đồng, trong đó có 6 cổ đông pháp nhân và 545 cổ đông thế nhân.

OceanBank bị mua lại 0 đồng kể từ tháng 4/2015, ngân hàng này tiền thân của Ngân hàng Nông thôn Hải Hưng. Vào năm 2007, Ocean Bank chuyển sang hình thức ngân hàng thương mại cổ phần đô thị và đến cuối năm 2010, Ngân hàng Nhà nước đã phát hiện ra rất nhiều sai phạm tại ngân hàng này, bản thân ngân hàng bị âm vốn và không tự bù đắp được số vốn bị thiếu hụt.

Trong khi đó, Ocean Bank bị mua lại 0 đồng 7/2015. Theo các báo cáo tài chính năm 2014, tính đến thời điểm 2/4/2015, tổng số tiền lỗ lũy kế của GPBank đã lên đến 12.280 tỷ đồng.

Về phía Ngân hàng Nhà nước, ngoài các giải pháp riêng với các ngân hàng 0 đồng, cơ quan quản lý ngành ngân hàng cũng đã đưa và kế hoạch hoạt động năm 2022 là tiếp tục triển khai Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025. Đại diện Ngân hàng Nhà nước cũng cho biết, hoạt động thanh tra giám sát trong năm 2002 sẽ có sự tập trung quan tâm những khu vực có dấu hiệu không an toàn, trên cơ sở đó xây dựng chương trình giám sát cụ thể.

Trong nội dung đánh giá về các giải pháp ổn định hệ thống ngân hàng, TS. Võ Đình Trí thuộc Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, trong điều kiện bình thường cũng cần xây dựng và tuân thủ các chỉ số cảnh báo sớm, đặc biệt là đối với các ngân hàng nhỏ. Theo ông Trí, ngày nay hệ thống thông tin dữ liệu hầu như có thể cập nhật theo thời gian thực, các loại dữ liệu dù có tần suất khác nhau nhưng những mô hình cảnh báo rủi ro hiện đại đều có thể tích hợp được.

Một số nội dung cơ bản tại dự thảo thông tư thay thế Thông tư 08
về cho vay đặc biệt đối với tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt

Quy định về điều kiện bảo đảm cho khoản cho vay đặc biệt, lãi suất cho vay đặc biệt, thời hạn cho vay đặc biệt, việc trả nợ cho vay đặc biệt.

Dự thảo thông tư cũng dự kiến thay thế một số cụm từ, thuật ngữ so với văn bản hiện hành để phù hợp với thực tiễn.

Theo dự thảo, một số trường hợp, việc miễn, giảm tiền lãi cho vay đặc biệt, việc xử lý đối với khoản cho vay đặc biệt đã cho vay (bao gồm cả việc gia hạn khoản cho vay đặc biệt, lãi suất đối với nợ gốc cho vay đặc biệt quá hạn) thực hiện theo phương án cơ cấu lại, phương án chuyển nhượng đã được phê duyệt.

Chí Tín

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▲700K 144,700 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲80K 14,480 ▲80K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲80K 14,480 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲80K 14,480 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,180 ▲80K 14,530 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,180 ▲80K 14,530 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,180 ▲80K 14,530 ▲80K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,840 ▲80K 14,440 ▲80K
Trang sức 99.99 13,850 ▲80K 14,450 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1277K 14,482 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1277K 14,483 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲8K 1,444 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 ▲8K 1,428 ▲1286K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 ▲792K 141,386 ▲792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 ▲600K 107,261 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 ▲78772K 97,264 ▲87592K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 ▲488K 87,267 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 ▲467K 83,411 ▲467K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 ▲44947K 59,704 ▲53767K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1277K 1,448 ▲1304K
Cập nhật: 17/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18013 18288 18870
CAD 18325 18601 19216
CHF 31563 31943 32587
CNY 0 3830 3940
EUR 29653 29875 30955
GBP 34634 35026 35963
HKD 0 3202 3404
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15129 15718
SGD 19925 20207 20775
THB 705 768 822
USD (1,2) 25885 0 0
USD (5,10,20) 25924 0 0
USD (50,100) 25953 25987 26354
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,675 29,699 31,103
JPY 159.87 160.16 169.81
GBP 34,794 34,888 36,086
AUD 18,193 18,259 18,948
CAD 18,495 18,554 19,238
CHF 31,795 31,894 32,843
SGD 20,029 20,091 20,876
CNY - 3,803 3,948
HKD 3,264 3,274 3,411
KRW 17.07 17.8 19.37
THB 752.73 762.03 815.86
NZD 15,102 15,242 15,690
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,980 4,120
NOK - 2,723 2,820
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,981.31 - 6,755.64
TWD 738.86 - 895.09
SAR - 6,843.27 7,208.48
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18181 18281 19211
CAD 18498 18598 19612
CHF 31788 31818 33400
CNY 3817.1 3842.1 3977.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29818 29848 31570
GBP 34925 34975 36733
HKD 0 3355 0
JPY 160.84 161.34 171.86
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15238 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20066 20196 20927
THB 0 734.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,950 26,000 26,330
USD20 25,900 26,000 26,815
USD1 25,850 26,000 26,865
AUD 18,227 18,327 19,461
EUR 29,602 29,702 31,401
CAD 18,432 18,532 19,865
SGD 20,138 20,288 20,873
JPY 161.24 162.74 168.5
GBP 34,800 34,950 36,065
XAU 14,028,000 0 14,332,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80