Chuyển giao chính thức hai ngân hàng 0 đồng

Hoàng Yến
(TBTCO) - Chiều 17/10, lễ chuyển giao bắt buộc 2 ngân hàng 0 đồng diễn ra tại trụ sở Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Theo đó, Ngân hàng TMCP Xây dựng (CBBank) được chuyển giao cho Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Ngân hàng TMCP Đại dương (OceanBank) được chuyển giao cho Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBank).
aa

Đây là thông tin được đại diện NHNN cho biết tại cuộc họp báo chiều ngày 17/10 về kết quả hoạt động ngân hàng quý 3.

Vốn cho nền kinh tế luôn dồi dào

Tại cuộc họp báo, thông tin về tình hình hoạt động ngân hàng quý III, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho hay thời gian qua, diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ thế giới có nhiều thuận lợi, qua đó giảm bớt áp lực chính sách tiền tệ của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Với tình hình này, năm 2024, mục tiêu đặt ra về GDP, lạm phát “hoàn toàn có thể thực hiện được”. Qua lăng kính đánh giá, khảo sát của ngành Ngân hàng, tình hình sản xuất kinh doanh đã có những khởi sắc, các đơn hàng đã tăng mạnh trở lại, khắc phục cơ bản được những khó khăn từ sau đại dịch.

Chuyển giao chính thức hai ngân hàng 0 đồng
Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú chủ trì cuộc họp báo

Dù vậy, Phó Thống đốc NHNN cũng đánh giá vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đang quyết liệt tháo gỡ như thúc đẩy giải ngân đầu tư công, một số dự án gặp vướng mắc. Đặc biệt là thiệt hại do cơn bão Yagi đã làm chững lại, ảnh hưởng phần nào đến tình hình phát triển kinh tế. Đối với ngành ngân hàng, ước tính có khoảng 165.000 tỷ đồng dư nợ bị ảnh hưởng, đặc biệt là ở 2 tỉnh Hải Phòng và Quảng Ninh.

Về tăng trưởng tín dụng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, Phó Thống đốc khẳng định vốn cho nền kinh tế luôn dồi dào, các ngân hàng thương mại thừa thanh khoản, đảm bảo vốn, “không có nhu cầu vay vốn nào đảm bảo điều kiện vay mà không được vay”. Điều hành hạn mức tín dụng năm 2024 “hết sức trôi chảy”, thông thoáng, không vướng mắc gì, Phó Thống đốc cho hay.

Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế còn thấp, mức tăng trưởng tín dụng của các TCTD không đồng đều, có TCTD tăng thấp, thậm chí tăng trưởng âm trong khi một số TCTD tăng sát chỉ tiêu, ngày 28/8/2024, NHNN đã thông báo mức tăng trưởng tín dụng tăng thêm cho các TCTD đảm bảo công khai, minh bạch.

Theo đó, kể từ ngày 28/8/2024, TCTD có tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2024 đạt từ 80% chỉ tiêu NHNN thông báo đầu năm 2024 sẽ được chủ động điều chỉnh tăng thêm dư nợ tín dụng dựa trên điểm xếp hạng của TCTD.

Để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng (TCTD) cung ứng nguồn vốn tín dụng cho nền kinh tế, ngày 31/12/2023, NHNN đã giao hết toàn bộ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2024 cho các TCTD và thông báo công khai nguyên tắc xác định để TCTD chủ động thực hiện tăng trưởng tín dụng.

Xu hướng nợ xấu đang tăng lên

Đối với điều hành lãi suất, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất tiếp tục xu hướng giảm so với cuối năm 2023.

Cùng với đó, tình hình tỷ giá, ngoại tệ quý 3 cũng có nhiều điểm tích cực, xu hướng tỷ giá dịu và giảm dần. Trước đây có lúc mức mất giá cao nhất khoảng 5 - 6%, giờ chỉ còn 1 – 2%, tạo niềm tin cho thị trường, nhà đầu tư nước ngoài, không còn tâm lý găm giữ tỷ giá. Hầu hết các nhu cầu ngoại tệ được đáp ứng đầy đủ, Phó Thống đốc thông tin thêm.

Đối với tình hình tăng trưởng tín dụng, theo NHNN, đến nay tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 9% so với cuối năm 2023. Với thanh khoản tốt và còn nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng, các tổ chức tín dụng hiện có điều kiện thuận lợi để cung ứng vốn cho vay đối với nền kinh tế. Đặc biệt vào thời điểm quý cuối năm, nhiều dự án có tiến độ giải ngân tăng nhanh hơn.

Tại cuộc họp báo, Phó Thống đốc cũng giải thích về thông tin tổng số vốn huy động của nền kinh tế hiện là 14,5 triệu tỷ đồng (tiền gửi), trong khi tổng dư nợ cho vay là hơn 14,7 triệu tỷ đồng. Mức chênh lệch giữa hai con số này chính là vốn của các ngân hàng thương mại đưa vào cho vay trong nền kinh tế, bên cạnh vốn huy động được trong nền kinh tế.

Bên cạnh những triển vọng tích cực, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cũng cho hay cần theo dõi sát xu hướng nợ xấu đang tăng lên, nhất là sau ảnh hưởng của cơn bão Yagi. Hiện nay, nhiều khoản nợ đang trong diện được cơ cấu lại theo các quy định, thông tư có hiệu lực đến hết năm 2024. Số lượng nợ xấu nằm trong số nợ đang cơ cấu lại không phải con số nhỏ, cộng với tác động từ cơn bão. Đây là vấn đề đòi hỏi phải có phương án xử lý trong thời gian tới, đại điện NHNN nhấn mạnh.

Chuyển giao chính thức hai ngân hàng 0 đồng
Ông Nguyễn Đức Long, Phó Chánh thanh tra Cơ quan thanh tra giám sát NHNN trao đổi tại cuộc họp

Cũng tại cuộc họp báo, ông Nguyễn Đức Long, Phó chánh thanh tra Cơ quan thanh tra giám sát NHNN cho hay, wchiều cùng ngày sẽ diễn lễ chuyển giao bắt buộc 2 ngân hàng 0 đồng.

Mục tiêu của chuyển giao bắt buộc là nhằm giúp các ngân hàng yếu kém khắc phục khó khăn, đảm bảo an toàn, tuân thủ các quy định pháp luật. Trước, trong và sau quá trình chuyển giao, tiền gửi của người gửi tiền hoàn toàn được đảm bảo, đại diện NHNN khẳng định.

Về quyền lợi của ngân hàng nhận chuyển giao, ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc sẽ được biện pháp hỗ trợ theo quy định. Còn 1 ngân hàng 0 đồng còn lại và ngân hàng TMCP Đông Á sẽ chuyển giao cho trong thời gian sớm nhất. Hiện các công việc đang tích cực triển khai theo đề án đã được phê duyệt.

Về chính sách điều hành thời gian tới, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Đào Minh Tú nêu rõ quan điểm là chính sách tiền tệ cởi mở để hỗ trợ được nhiều vốn hơn, hỗ trợ lãi suất, tỷ giá, đảm bảo ngoại tệ cho nền kinh tế.
Hoàng Yến

Đọc thêm

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18576 18853 19428
CAD 18689 18967 19584
CHF 33051 33437 34081
CNY 0 3842 3934
EUR 30234 30508 31535
GBP 34839 35233 36173
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15315 15896
SGD 20164 20447 20972
THB 730 793 847
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,152 26,152 26,382
USD(1-2-5) 25,106 - -
USD(10-20) 25,106 - -
EUR 30,432 30,456 31,726
JPY 162.8 163.09 171.92
GBP 35,102 35,197 36,195
AUD 18,800 18,868 19,469
CAD 18,919 18,980 19,566
CHF 33,394 33,498 34,292
SGD 20,337 20,400 21,083
CNY - 3,818 3,941
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 779.2 788.82 839.94
NZD 15,329 15,471 15,836
SEK - 2,786 2,868
DKK - 4,072 4,192
NOK - 2,832 2,916
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,287.75 - 7,059.3
TWD 756.84 - 911.57
SAR - 6,923.65 7,250.32
KWD - 83,954 88,810
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26382
AUD 18750 18850 19773
CAD 18874 18974 19987
CHF 33307 33337 34920
CNY 3819.9 3844.9 3980.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30418 30448 32173
GBP 35142 35192 36953
HKD 0 3355 0
JPY 163.37 163.87 174.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15422 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20323 20453 21181
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,175 26,225 26,382
USD20 26,175 26,225 26,382
USD1 23,870 26,225 26,382
AUD 18,797 18,897 20,014
EUR 30,566 30,566 31,986
CAD 18,822 18,922 20,234
SGD 20,398 20,548 21,485
JPY 163.87 165.37 169.97
GBP 35,029 35,379 36,270
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 796 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80