Agribank không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Tuấn Nguyễn
(TBTCO) - Trải qua hành trình 35 năm hình thành và phát triển, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực luôn được Agribank xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Hoạt động này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững và khẳng định vị thế thương hiệu Agribank.
aa
Agribank không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Nguồn: Trường đào tạo cán bộ Agribank. Đồ họa: Phương Anh

Đào tạo trên 86 nghìn lượt cán bộ, nhân viên

Bám sát chỉ đạo của Đảng ủy, Hội đồng thành viên, Ban điều hành, cùng tinh thần chủ động, tích cực của người học, sự sáng tạo, trí tuệ và tâm huyết của đội ngũ giảng viên, cán bộ làm công tác đào tạo trong hệ thống, năm 2023, hoạt động đào tạo tại Agribank đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Hoạt động đào tạo đã được đổi mới về nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng kịp thời yêu cầu quản trị, điều hành, hoạt động kinh doanh; ưu tiên đào tạo nghiệp vụ, kỹ năng cho cán bộ làm công tác tín dụng, quan hệ khách hàng; đào tạo về nghiệp vụ chuyên sâu, kiến thức quản trị, đạo đức nghề nghiệp… cho đội ngũ cán bộ; tập trung triển khai và hoàn thành đúng tiến độ kế hoạch chuyển đổi số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 về lĩnh vực đào tạo.

Đại diện Agribank cho biết, một số chương trình đào tạo trọng tâm được triển khai trong năm 2023 như: chương trình quản lý hoạt động ngân hàng; chương trình lãnh đạo quản lý cấp phòng, chương trình quản lý rủi ro tín dụng chuyên sâu; chương trình nâng cao nghiệp vụ tín dụng khách hàng pháp nhân; chương trình nghiệp vụ kiểm tra kiểm soát nội bộ; chương trình nâng cao kiến thức về xu hướng; công nghệ trong lĩnh vực chuyển đổi số, ngân hàng số; chương trình kỹ năng chăm sóc hỗ trợ khách hàng, nghiệp vụ kế toán, nghiệp vụ đấu thầu…

Tính đến 31/10/2023, Trường Đào tạo cán bộ Agribank đã tổ chức thực hiện 24 chương trình đào tạo với 144 lớp học, đào tạo được trên 86.000 lượt học viên. Đối với chương trình đào tạo tập trung, trường đã tổ chức 15 chương trình với 99 lớp học cho trên 8.300 lượt học viên, riêng chương trình đào tạo nghiệp vụ ngân hàng bằng tiếng Anh tại Úc - giai đoạn 2 đã hoàn thành 2 lớp và 50 học viên tham dự.

Đối với chương trình đào tạo trực tuyến trên hệ thống E-learning, trường đã tổ chức 4 chương trình đào tạo qua hệ thống E-learning với 55 lớp học cho trên 72.700 lượt học viên; bên cạnh đó đã triển khai 20 bài giảng tự chọn trên hệ thống. Trường cũng đã tổ chức 6 chương trình đào tạo phát sinh ngoài kế hoạch với 8 lớp học cho trên 6.600 lượt học viên. Trong tháng 11/2023, Trường Đào tạo cán bộ Agribank tập trung triển khai 4 chương trình đào tạo còn lại với 8 lớp học, đảm bảo hoàn thành 100% kế hoạch và 2 chương trình phát sinh theo đề nghị của các đơn vị tại trụ sở chính.

Cũng trong năm 2023, các đơn vị trong hệ thống đã đào tạo được khoảng 103.000 lượt người, bình quân khoảng 2,5 ngày đào tạo/người. Nội dung tự đào tạo phong phú trên nhiều lĩnh vực, từ mảng nghiệp vụ ngân hàng đến các lĩnh vực bổ trợ. Ngoài ra, các đơn vị đã chú trọng trong việc tổ chức hoặc cử cán bộ tham gia các chương trình đào tạo chuyên sâu hoặc đặc thù như nhận biết tiền thật tiền giả, nghiệp vụ phòng chống rửa tiền..., do các đơn vị trong và ngoài ngành ngân hàng tổ chức đáp ứng nhu cầu thực tế tại đơn vị.

Lan tỏa tinh thần học tập, trau dồi kỹ năng nghiệp vụ

Agribank không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Agribank không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Đại diện Agribank cho biết, năm 2023, Trường Đào tạo cán bộ Agribank đã phối hợp với các đơn vị tổ chức 7 đợt thi, kiểm tra nghiệp vụ với 6.630 lượt người dự thi. Các đợt thi và kiểm tra đã giúp người lao động tăng cường tính chủ động trong việc tự học tập, nghiên cứu, cập nhật các văn bản quy định, cơ chế, chính sách, đáp ứng yêu cầu công việc. Trường đã tổ chức kiểm tra nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra giám sát nội bộ trong tháng 3/2023 với gần 400 người tham gia, hình thức thi trắc nghiệm trên hệ thống E-learning và thi tự luận.

Đồng thời, trường cũng đã tổ chức hội thi cán bộ tín dụng giỏi Agribank toàn quốc năm 2023 với trên 300 người, thi tập trung tại Hà Nội. Bên cạnh đó, bằng hình thức thi trắc nghiệm trên hệ thống E-learning, trường đã tổ chức 2 đợt kiểm tra nghiệp vụ năm 2023 đối với cán bộ tại trụ sở chính, văn phòng đại diện; tổ chức thi đánh giá chất lượng cán bộ tín dụng với trên 2.600 người tham gia; tổ chức kiểm tra nghiệp vụ cho trưởng phòng cấp tín dụng tại chi nhánh loại I và giám đốc chi nhánh loại II, với gần 900 người tham gia.

Trường Đào tạo cán bộ Agribank đã tổ chức cập nhật dữ liệu đào tạo từ năm 2022 trên hệ thống E-learning và thường xuyên tổ chức hỗ trợ đào tạo trên hệ thống, theo đề nghị của các đơn vị cũng như thường xuyên duy trì 20 bài giảng tự chọn để cán bộ có nhu cầu chủ động truy cập học. Trường đã luôn duy trì chương trình đào tạo trực tuyến với số lượng 2.000 học viên hàng ngày học trên hệ thống.

Agribank cho biết, qua thực tế triển khai, các chương trình đào tạo được học viên đánh giá cao về mức độ đáp ứng và phù hợp với yêu cầu thực tế (tỷ lệ tiêu chí đánh giá tốt đạt khoảng 90%). Giảng viên của các chương trình đào tạo là các giảng viên chuyên trách, giảng viên kiêm nhiệm đến từ các đơn vị trong hệ thống, giàu kinh nghiệm thực tiễn, có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng sư phạm tốt. Chất lượng giảng dạy của giảng viên được học viên đánh giá cao. Hình thức đào tạo được kết hợp linh hoạt giữa hình thức đào tạo trực tiếp và trực tuyến, phù hợp với đặc thù của lớp học và đạt hiệu quả cao.

Agribank cho rằng, hoạt động đào tạo đã góp phần góp phần lan tỏa tinh thần học tập, trau dồi kiến thức kỹ năng nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, người lao động, xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển trong quá trình hướng đến ngân hàng số, ngân hàng bán lẻ hàng đầu, chủ lực trên thị trường tài chính nông nghiệp, nông thôn, hiện đại và hội nhập, tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín, thương hiệu của Agribank.

Nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu quản trị, điều hành

Trong thời gian tới, hoạt động đào tạo tại Agribank tiếp tục bám sát chỉ đạo của Đảng ủy, hội đồng thành viên, ban điều hành và yêu cầu của thực tiễn, tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp, áp dụng công nghệ để nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu quản trị, điều hành, hoạt động kinh doanh trong bối cảnh công nghệ số, ngân hàng số... Các chương trình đào tạo dự kiến đa dạng trên nhiều lĩnh vực và cho từng đối tượng học viên: chương trình đào tạo dành cho lãnh đạo quản lý; chương trình đào tạo dành cho cán bộ tín dụng, thanh toán quốc tế, sản phẩm dịch vụ, kiểm tra, giám sát nội bộ...

Tuấn Nguyễn

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80