Các chuyên gia bàn thảo về giải pháp cho chính sách tiền tệ

Chí Tín
(TBTCO) - Ngày 10/5/2023, tại Hà Nội đã diễn ra Diễn đàn Toàn cảnh Ngân hàng năm 2023 với chủ đề “Điều hành chính sách tiền tệ trước biến số kinh tế toàn cầu” do Tạp chí Kinh tế Sài Gòn tổ chức, với sự chỉ đạo nội dung của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).
aa

Tại Diễn đàn toàn cảnh Ngân hàng 2023, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho biết, bối cảnh vĩ mô năm 2022 và những tháng đầu năm 2023 biến động nhanh và mạnh nhất trong nhiều thập kỷ, vượt khỏi mọi dự đoán trước đó. Từ suy thoái sâu trong đại dịch Covid-19, kinh tế toàn cầu nhanh chóng chuyển trạng thái thành lạm phát cao kỷ lục, lên mức trên 8% tại Mỹ và trên 10% tại châu Âu, hơn 80 quốc gia lạm phát từ 2 con số trở lên trong năm 2022.

Các chuyên gia bàn thảo về giải pháp cho chính sách tiền tệ
Ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc NHNN phát biểu tại Diễn đàn. Ảnh: C.T
Các giải pháp chống hàng giả bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử Cải cách hành chính và đồng bộ chính sách - Giải pháp thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi

Lạm phát tăng cao nên xu hướng thắt chặt tiền tệ là không tránh khỏi. Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất với tần suất và mức độ nhanh nhất trong lịch sử, tăng 5% chỉ trong 14 tháng. Những tháng đầu năm 2023, nhiều quốc gia đối mặt với rủi ro suy thoái kinh tế kèm lạm phát cao, thương mại toàn cầu giảm, khủng hoảng tại một số ngân hàng ở Mỹ, châu Âu tiếp tục đặt ra thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ trên toàn thế giới.

Nhiều sức ép lớn từ thị trường tài chính quốc tế

Thị trường quốc tế biến động mạnh, từ tiền tệ với đồng USD có thời điểm tăng giá lên mức kỷ lục trong 20 năm, đến cổ phiếu, trái phiếu, và lưu chuyển dòng vốn toàn cầu. Xu hướng tăng lãi suất, bán can thiệp ngoại tệ diễn ra tại nhiều nước mới nổi và đang phát triển nhằm bảo vệ đồng nội tệ trước áp lực mất giá quá mạnh, kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Tham gia thảo luận tại diễn đàn, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV đưa ra dự báo xu hướng tăng lãi suất sẽ dừng lại. Cụ thể, Mỹ và châu Âu có thể sẽ giữ nguyên mức lãi suất hiện tại từ nay đến cuối năm 2023. Các nước châu Á có thể cùng lắm sẽ chỉ tăng thêm 1 lần lãi suất nữa, sau đó lãi suất sẽ vào giai đoạn đi ngang và có thể giảm dần từ năm 2024.

Theo các diễn giả tham gia diễn đàn, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến số bất định, còn nội tại nền kinh tế cũng đang đối mặt với nhiều bài toán khó khăn trên nhiều lĩnh vực, như chậm giải ngân đầu tư công, vướng mắc pháp lý và sự suy yếu của thị trường bất động sản, áp lực điều chỉnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp…

Do đó, các chuyên gia cho rằng, chính sách cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ban, ngành, địa phương, cùng tham gia xây dựng gói giải pháp chung tổng thể, nhằm tăng cường tính liên kết giữa các chính sách nói chung và giúp gia tăng hiệu quả chính sách tiền tệ nói riêng.

Các chuyên gia bàn thảo về giải pháp cho chính sách tiền tệ
Các chuyên gia tại diễn đàn. Ảnh: C.T

Đánh giá về tình hình hiện tại, bà Dương Thị Thanh Bình - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, sang năm 2023, khi các áp lực bên ngoài đã dịu hơn, ngân hàng trung ương các nước và FED giảm dần biên độ và cường độ tăng lãi suất, chỉ số USD Index cũng ở mức 101%, thấp hơn 11% so với tháng 11 và 12/2022. Cung cầu tiền tệ trong nước được cải thiện, thêm vào đó là các giải pháp điều hành thì tỷ giá đã ổn định, thị trường thông suốt. Ngoài ra, NHNN cũng mua lượng lớn ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại hối.

Chính sách tiền tệ đối diện nhiều vấn đề mâu thuẫn đan xen

Trước bối cảnh trong và ngoài nước như hiện nay, NHNN và các chuyên gia cho biết, chính sách tiền tệ đang phải giải quyết nhiều vấn đề mâu thuẫn nhau. Đó là làm sao để vừa hỗ trợ kinh tế phục hồi sau đại dịch mà vẫn đảm bảo kiểm soát lạm phát trong bối cảnh giá cả, lạm phát toàn cầu tăng cao; vừa giảm áp lực mất giá mạnh của đồng Việt Nam mà vẫn phải giữ ổn định mặt bằng lãi suất. Chính sách cũng vừa đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng trong khi vẫn phải đảm bảo nhu cầu tín dụng cho nền kinh tế, đồng thời triển khai các giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn.

Chí Tín

Đọc thêm

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

Nam A Bank bứt phá, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt hơn 4.700 tỷ đồng, tổng tài sản tiệm cận 465.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank, mã CK: NAB) công bố kết quả hoạt động kinh doanh 9 tháng năm 2026 với những con số tăng trưởng ấn tượng và toàn diện. Tính đến ngày 30/9/2026, lợi nhuận trước thuế đạt hơn 4.700 tỷ đồng; tổng tài sản tiệm cận mốc 465.000 tỷ đồng. Chất lượng tài sản và đệm an toàn vốn tiếp tục được củng cố mạnh mẽ.
Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

Củng cố thanh khoản và nguồn vốn để đạt chuẩn "kép” 100%, ngân hàng được gỡ trần tỷ lệ LDR

(TBTCO) - VPBankS cho rằng, Thông tư 50/2026/TT-NHNN có lộ trình chuyển đổi linh hoạt hơn dự thảo trước đó. Việc bổ sung tỷ lệ LCR và NSFR sẽ khuyến khích các ngân hàng củng cố thanh khoản và sử dụng nguồn vốn ổn định hơn. Đáng chú ý, khi đồng thời duy trì LCR và NSFR từ 100%, ngân hàng không còn phải tuân thủ giới hạn LDR.
Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

Tích sản bằng thói quen: Khi đầu tư định kỳ quỹ mở chỉ còn là một lần cài đặt

(TBTCO) - Không cần nhớ lịch, không cần đoán thời điểm, nhà đầu tư giờ có thể để một khoản tiền cố định tự động được đầu tư vào quỹ mở mỗi tháng. Với Chương trình đầu tư định kỳ (SIP) của VCBF trên ứng dụng VCB Digibank, thói quen ấy bắt đầu chỉ từ 100.000 đồng và vài thao tác trên điện thoại.
Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/10: Giá vàng trong nước đi ngang quanh mức 143,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước ít biến động. Vàng miếng giữ giá bán 143,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn giảm nhẹ tại Bảo Tín Minh Châu.
Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,300
Hà Nội - PNJ 140,300 143,300
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,300
Miền Tây - PNJ 140,300 143,300
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,300
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17568 17840 18416
CAD 17711 17985 18604
CHF 30684 31060 31702
CNY 0 3836 3932
EUR 28495 28712 29792
GBP 33576 33964 34901
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14231 14818
SGD 19771 20052 20622
THB 687 751 804
USD (1,2) 25739 0 0
USD (5,10,20) 25778 0 0
USD (50,100) 25806 25820 26190
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,815 25,815 26,195
USD(1-2-5) 24,783 - -
USD(10-20) 24,783 - -
EUR 28,557 28,580 29,936
JPY 160.35 160.64 170.37
GBP 33,791 33,882 35,054
AUD 17,770 17,834 18,510
CAD 17,902 17,959 18,619
CHF 30,971 31,067 31,978
SGD 19,894 19,956 20,740
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 736.8 745.9 798.17
NZD 14,242 14,374 14,801
SEK - 2,544 2,634
DKK - 3,831 3,966
NOK - 2,657 2,753
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,944.37 - 6,709.49
TWD 739.25 - 895.07
SAR - 6,807.85 7,171.9
KWD - 82,065 87,324
AED - 6,823 7,353
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17747 17847 18770
CAD 17901 18001 19012
CHF 30954 30984 32566
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28683 28713 30446
GBP 33888 33938 35693
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14343 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19931 20061 20782
THB 0 716.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 06/10/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30