Đưa tài sản trí tuệ thành nguồn vốn: Cần cơ chế để chính sách đi vào thực tế
Chiều 24/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa. Đây là dự án luật mới, điều chỉnh một lĩnh vực đa ngành, giao thoa giữa văn hóa, sở hữu trí tuệ, công nghệ, tài chính và đầu tư.
Đề xuất cho phép dùng tài sản trí tuệ để góp vốn, làm tài sản bảo đảm
Theo tờ trình của Chính phủ, các ngành công nghiệp văn hóa ở Việt Nam còn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Việc xây dựng luật nhằm khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo, gia tăng hàm lượng văn hóa trong sản phẩm, dịch vụ và tạo đòn bẩy đưa công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng.
Một trong những đề xuất mới đáng chú ý là tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa được sử dụng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng. Tổ chức tín dụng có thể sử dụng chứng thư và báo cáo thẩm định giá làm một trong các cơ sở xem xét giá trị tài sản bảo đảm; quyết định nhận tài sản bảo đảm và cấp tín dụng vẫn thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng theo pháp luật có liên quan.
![]() |
| Phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, chiều 24/9/2026. Ảnh: Quochoi.vn |
Dự thảo cũng đặt ra việc xây dựng hồ sơ, mã định danh tài sản trí tuệ; hỗ trợ phương pháp và cơ sở dữ liệu phục vụ định giá; hình thành sàn giao dịch công nghiệp văn hóa để giới thiệu, niêm yết và giao dịch sản phẩm, tài sản trí tuệ cùng các quyền tài sản liên quan.
Tuy nhiên, việc dùng tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm không đơn giản là một quy định. Theo ý kiến tại phiên họp, việc nhận hay không nhận tài sản bảo đảm, xác định giá trị và quyết định cấp tín dụng vẫn thuộc thẩm quyền của tổ chức tín dụng. Ngân hàng phải tự thẩm định, tự chịu trách nhiệm về quyết định cấp tín dụng, nhất là trên cơ sở khả năng trả nợ của khách hàng. Để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, cần làm rõ đối tượng, điều kiện và phạm vi bảo lãnh để tránh cách hiểu khác nhau khi thực hiện; đồng thời xác định rõ thiết chế thực hiện cơ chế này.
| Theo chương trình dự kiến, hồ sơ dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ được hoàn thiện để xin ý kiến Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách, trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2 và dự kiến xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XVI. |
Bên cạnh đó, vấn đề định giá cũng được cả cơ quan thẩm tra và các đại biểu đặc biệt quan tâm. Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội nhận định, đây là khâu đầu tiên quyết định tính khả thi của chính sách góp vốn, thế chấp, giao dịch tài sản trí tuệ.
Trong khi đó, việc định giá trên thực tế còn khó khăn, Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm về tổ chức và phương pháp định giá. Cơ quan thẩm tra đề nghị luật chỉ quy định nguyên tắc định giá và vai trò quản lý nhà nước, tránh định nghĩa lại tài sản trí tuệ gây mâu thuẫn, chồng chéo với Luật Sở hữu trí tuệ.
Theo các ý kiến tại phiên họp, chính sách tài sản trí tuệ là nhóm được kỳ vọng lớn, nhưng cũng dễ rơi vào tình trạng “nói nhiều làm khó”. Do đó, cần có cơ chế định giá độc lập, minh bạch, tiêu chuẩn thống nhất; làm rõ quan hệ với Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành, tránh gây khó cho người thực hiện.
Quy định thống nhất về chính sách thuế
Bên cạnh tài sản trí tuệ, dự thảo đề cập sàn giao dịch công nghiệp văn hóa, hỗ trợ quảng bá và phân phối sản phẩm trong nước, quốc tế, cùng chính sách hỗ trợ một số nhóm người dân tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa.
Về chính sách tài chính, dự thảo đề xuất sử dụng những quỹ có chức năng phù hợp để hỗ trợ hoặc đầu tư cho công nghiệp văn hóa; hỗ trợ một phần chi phí phát sinh tại
Việt Nam đối với doanh nghiệp Việt Nam cung cấp hàng hóa, dịch vụ phục vụ hoạt động sáng tạo, sản xuất, biểu diễn, ghi hình của tổ chức, cá nhân nước ngoài. Theo dự thảo, mức hỗ trợ không vượt quá 30% chi phí thực tế, hợp lý, hợp lệ thuộc phạm vi được hỗ trợ. Dự thảo còn đề xuất hoàn thuế giá trị gia tăng cho đoàn làm phim nước ngoài sử dụng bối cảnh tại Việt Nam khi đáp ứng điều kiện.
Qua thẩm tra, Thường trực Ủy ban Văn hóa xã hội cơ bản tán thành các chính sách về tài chính, hỗ trợ, ưu đãi đầu tư cho phát triển công nghiệp văn hóa.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị lưu ý làm rõ phạm vi hỗ trợ, cơ chế miễn trừ trách nhiệm của chính sách đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghiệp văn hóa; xác định rõ dự án đầu tư trong phát triển công nghiệp văn hóa cần ưu tiên thu hút đầu tư.
Liên quan đến chính sách thuế, cơ quan thẩm tra cho rằng, cần rà soát, làm rõ cơ sở pháp lý, phạm vi đối tượng thụ hưởng của các chính sách hỗ trợ về thuế, tài chính. Đồng thời, đề nghị cân nhắc chuyển nội dung sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến chính sách về thuế sang các luật về thuế để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, bảo đảm khả năng cân đối ngân sách nhà nước.
Phát biểu tiếp thu tại phiên họp, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lâm Thị Phương Thanh cho biết, cơ quan soạn thảo sẽ tiếp tục làm rõ phạm vi điều chỉnh, ranh giới với các luật khác, tập trung chính sách vào lĩnh vực trọng điểm và rà soát cơ chế kiểm soát rủi ro, điều kiện huy động vốn. Bộ cũng sẽ nghiên cứu bộ chỉ số đo lường kết quả phát triển công nghiệp văn hóa.
Định vị chính thức cho công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tếTheo tờ trình của Chính phủ, dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa hướng tới xác định địa vị pháp lý chính thức cho các ngành công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam; kết nối chuỗi giá trị để tăng giá trị kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài; đồng thời lan tỏa bản sắc văn hóa, thương hiệu quốc gia và “sức mạnh mềm Việt Nam” trên trường quốc tế. Từ mục tiêu này, dự thảo tiếp cận công nghiệp văn hóa như một chuỗi giá trị, với 6 nhóm nội dung chính: phát triển hệ sinh thái; tài sản trí tuệ; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính và hỗ trợ, ưu đãi đầu tư. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đánh giá, điểm mới của dự án là tiếp cận theo chuỗi giá trị đầy đủ, thay vì chỉ nhìn từ góc độ quản lý hành chính. Tinh thần của chính sách là chuyển bản sắc văn hóa thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền, qua đó tạo giá trị kinh tế và lan tỏa sức mạnh mềm quốc gia. Về hạ tầng, dự thảo đề cập việc phát triển tổ hợp sáng tạo văn hóa, cụm và khu công nghiệp sáng tạo văn hóa; sử dụng không gian công cộng cho hoạt động công nghiệp văn hóa; xây dựng hạ tầng văn hóa số, trong đó Kho dữ liệu văn hóa số quốc gia là hạ tầng dữ liệu dùng chung. Việc sử dụng không gian công cộng phải bảo đảm quyền tiếp cận bình đẳng của cộng đồng, an ninh, an toàn và không làm phát sinh quyền chiếm dụng trái quy định. Đối với thị trường, dự thảo đề xuất hỗ trợ quảng bá, phân phối sản phẩm trên nền tảng số; kết nối đối tác, mạng lưới phân phối trong nước và quốc tế; hỗ trợ xác lập, bảo hộ, khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Học sinh, sinh viên, người có công, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật và một số đối tượng chính sách khác được đề xuất hưởng chính sách hỗ trợ tiêu dùng sản phẩm công nghiệp văn hóa. Việc hỗ trợ có thể thực hiện thông qua thẻ văn hóa quốc gia hoặc hình thức khác do Chính phủ quy định. |




