Giảm số dự án, chưa hết nỗi lo đầu tư dàn trải
Giảm số lượng chưa đồng nghĩa với tập trung nguồn lực
Bộ Tài chính vừa có Báo cáo số 777/BC-BTC về kết quả giám sát việc phân bổ nguồn lực đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 tại một số địa phương theo Kết luận số 18-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Theo tổng hợp báo cáo của 34 địa phương, giai đoạn 2021 - 2025 có 94.529 dự án. Đến giai đoạn 2026 - 2030, 33 địa phương đã xác định danh mục với 27.608 dự án. Riêng Đắk Lắk chưa có số liệu tổng số dự án do HĐND tỉnh chưa phê duyệt kế hoạch đầu tư công trung hạn, dự kiến hoàn thành trong tháng 10/2026.
![]() |
| Nguồn: Bộ Tài chính. Đồ họa: Phương Anh |
Các địa phương đều xác định giảm ít nhất 30% số lượng dự án so với giai đoạn trước. Tuy nhiên, Bộ Tài chính lưu ý phạm vi thống kê chưa đồng nhất, nhất là với dự án dự kiến khởi công mới nhưng chưa được bố trí vốn, dự án đang chuẩn bị đầu tư hoặc dự án thay đổi cấp quản lý. Vì vậy, số lượng dự án giảm trên báo cáo chưa đủ để khẳng định nguồn lực đã được tập trung hiệu quả.
Đáng chú ý, tổng kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn của 33 địa phương có số liệu tăng từ khoảng 2,619 triệu tỷ đồng giai đoạn 2021 - 2025 lên 4,628 triệu tỷ đồng giai đoạn 2026 - 2030. Quy mô vốn tăng trong khi số lượng dự án được rà soát giảm càng đặt ra yêu cầu lựa chọn danh mục chặt chẽ, tập trung nguồn lực vào những công trình thực sự cần thiết.
Nếu danh mục vẫn có nhiều dự án quy mô nhỏ, chưa đủ thủ tục hoặc chưa xác định rõ thứ tự ưu tiên, vốn vẫn có nguy cơ phân tán. Bởi vậy, chất lượng lựa chọn dự án và cách bố trí vốn mới là những yếu tố cần được xem xét, thay vì chỉ nhìn vào tỷ lệ giảm số lượng.
Chênh lệch trong cách tập trung vốn giữa các địa phương
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích số liệu báo cáo của các địa phương, Bộ Tài chính đã chọn ra 6 địa phương gồm Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Ninh Bình, Đắk Lắk và Tây Ninh để thực hiện giám sát. Nội dung giám sát tập trung vào số lượng dự án khởi công mới, mức độ tập trung vốn, thứ tự ưu tiên và việc sử dụng kết quả đánh giá hiệu quả đầu tư trong lựa chọn dự án.
Tại cả 6 địa phương được giám sát, số lượng dự án sử dụng vốn ngân sách trung ương đều dự kiến giảm tối thiểu 30% so với giai đoạn 2021 - 2025. Trong đó, Hà Nội dự kiến giảm 88,78%, TP. Hồ Chí Minh giảm khoảng 42% và Đắk Lắk giảm 86,1%.
Hà Nội thể hiện rõ định hướng ưu tiên dự án quy mô lớn. Cụ thể, tỷ trọng vốn dành cho dự án nhóm A dự kiến tăng từ 2,08% giai đoạn 2021 - 2025 lên 77,14% giai đoạn 2026 - 2030. 10 dự án có quy mô vốn lớn nhất chiếm 64,3% tổng vốn ngân sách cấp thành phố và chỉ còn 7 dự án có tổng mức đầu tư 5 tỷ đồng.
Tập trung vốn đầu tư công vào các dự án thực sự cấp thiết, hiệu quảKết quả giám sát từ Bộ Tài chính cho thấy, giảm số lượng dự án mới là bước khởi đầu. Muốn nguồn lực đầu tư công được tập trung thực chất, danh mục cần được rà soát theo nhu cầu, mức độ sẵn sàng và hiệu quả kinh tế - xã hội. Cụ thể, vốn phải được bố trí đúng thứ tự ưu tiên, tránh tình trạng dự án chưa đủ điều kiện vẫn dự kiến nguồn lực trong khi công trình trọng điểm chưa được đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn. |
Tại Đắk Lắk, trong số các dự án khởi công mới, 11 dự án dự kiến được bố trí khoảng 6.953,4 tỷ đồng trên tổng số vốn được giao 9.859,5 tỷ đồng. Trong đó, 9 dự án thuộc Chương trình hành động số 11-CTr/TU của Tỉnh ủy được ưu tiên bố trí phần lớn vốn ngân sách trung ương dành cho các dự án khởi công mới.
Trong khi đó, TP. Hồ Chí Minh còn 356 dự án có tổng mức đầu tư dưới 5 tỷ đồng; Tây Ninh có 250 trong tổng số 300 dự án khởi công mới thuộc nhóm C. Đà Nẵng cũng còn nhiều dự án quy mô nhỏ do các sở, ban quản lý dự án cấp thành phố làm chủ đầu tư. Ninh Bình có 575 dự án
nhóm C và nhiều dự án được bố trí dưới 5 tỷ đồng. Tuy nhiên, phần lớn trong số này là dự án chuyển tiếp hoặc đã hoàn thành giai đoạn 2021 - 2025 nhưng chưa quyết toán, phát sinh trong quá trình hợp nhất 3 tỉnh cũ. Vì vậy, Bộ Tài chính lưu ý cần phân loại rõ từng nhóm trước khi đánh giá mức độ tập trung nguồn lực.
Những trường hợp trên cho thấy không thể đánh giá việc giảm số dự án một cách máy móc. Với dự án chuyển tiếp hoặc đã hoàn thành nhưng chưa quyết toán, cần phân biệt với dự án khởi công mới. Việc lựa chọn dự án mới phải gắn với tính cần thiết, khả năng cân đối vốn và hiệu quả đầu tư.
Dự án chưa sẵn sàng, hiệu quả đầu tư chưa thành căn cứ rõ ràng
Một vấn đề đáng chú ý qua giám sát là mức độ sẵn sàng của danh mục dự án tại một số địa phương còn hạn chế, trong khi việc xác định thứ tự ưu tiên và đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội chưa đồng đều.
Tại TP. Hồ Chí Minh, khoảng 343.000 tỷ đồng kế hoạch vốn trung hạn chưa được giao chi tiết do các dự án chưa đủ thủ tục đầu tư. Dự án đường trục Đông - Tây/Võ Văn Kiệt nối dài mới được bố trí khoảng 56,61% nhu cầu vốn trung hạn.
Tại Đà Nẵng, 567/1.596 dự án đang chuẩn bị đầu tư, chiếm 35,5% số dự án và khoảng 43,9% tổng vốn dự kiến. Với các dự án cải tạo, nâng cấp tuyến quốc lộ kết nối Đông - Tây, thành phố đang xác định thành nhiều dự án thành phần, cần bảo đảm thống nhất về mục tiêu và phạm vi đầu tư.
Tại Đắk Lắk, 9/17 dự án đang chuẩn bị đầu tư chưa được phê duyệt chủ trương đầu tư, với số vốn bố trí thực hiện khoảng 6.247,813 tỷ đồng. Đáng lưu ý, dự án cao tốc Phú Yên - Đắk Lắk mới ở bước nghiên cứu, đề xuất ý tưởng nhưng đã dự kiến đề xuất ngân sách trung ương hỗ trợ 10.000 tỷ đồng.
Bộ Tài chính đề nghị các địa phương rà soát danh mục dự án dự kiến khởi công mới chưa được bố trí vốn, căn cứ vào sự cần thiết, hiệu quả kinh tế - xã hội, hiệu quả đầu tư, thứ tự ưu tiên và khả năng cân đối nguồn lực. Việc hoàn thiện thủ tục cần gắn với quá trình xây dựng kế hoạch, tránh đưa dự án chưa đủ điều kiện vào kế hoạch trung hạn chính thức.
Thứ tự ưu tiên bố trí vốn tại một số địa phương cũng chưa phù hợp với quy định của Luật Đầu tư công. Theo báo cáo, tại TP. Hồ Chí Minh và Tây Ninh, nghị quyết của HĐND đang xếp một số chương trình, nhiệm vụ vào thứ tự ưu tiên cao chưa phù hợp với khoản 4 Điều 54 Luật Đầu tư công. Tây Ninh cơ bản kế thừa danh mục do các địa phương xây dựng trước khi sáp nhập, chưa ban hành nguyên tắc sắp xếp thứ tự ưu tiên đối với dự án khởi công mới.
Công tác đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội cũng chưa đồng đều về chất lượng và mức độ lượng hóa. Hà Nội chưa có đầy đủ hướng dẫn chi tiết của Trung ương về đánh giá hiệu quả theo từng loại dự án. Tại Ninh Bình, một số chỉ tiêu khó lượng hóa nên chủ yếu được đánh giá định tính; TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Tây Ninh cũng chưa có phương pháp lượng hóa thống nhất giữa các dự án.
Theo Bộ Tài chính, kết quả đánh giá hiệu quả đầu tư chưa được thể hiện rõ thành căn cứ sàng lọc danh mục, xác định thứ tự ưu tiên và mức vốn bố trí, nhất là với dự án quy mô lớn, dự án PPP và dự án đề xuất hỗ trợ vốn ngân sách trung ương.
Bộ Tài chính đề nghị các địa phương chuẩn hóa số liệu, hoàn thiện danh mục và phương án phân bổ vốn sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định; ưu tiên bố trí đủ vốn cho dự án trọng điểm, liên vùng và dự án có khả năng hoàn thành trong kỳ kế hoạch. Đồng thời, cần lượng hóa hiệu quả kinh tế - xã hội, sử dụng kết quả đánh giá làm căn cứ lựa chọn dự án và phân bổ nguồn lực.
Bộ Tài chính cũng kiến nghị xem xét ưu tiên cân đối, bổ sung vốn ngân sách trung ương giai đoạn 2026 - 2030 cho các dự án hạ tầng chiến lược, có tính lan tỏa, liên vùng, trên cơ sở rà soát thứ tự ưu tiên và khả năng cân đối chung của ngân sách trung ương. Việc sớm thông báo chính thức tổng mức vốn ngân sách trung ương và ngân sách địa phương còn lại của giai đoạn sẽ tạo cơ sở để các địa phương hoàn thiện kế hoạch.



