Nhiều ngân hàng hé mở mục tiêu tăng tín dụng 16%, dốc lực cho nhiều lĩnh vực trọng tâm

(TBTCO) - Tín dụng được kỳ vọng tiếp tục là động lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tại Đại hội đồng cổ đông ngày 18/4, lãnh đạo VietinBank và ABBank nêu rõ định hướng đẩy mạnh tín dụng vào các lĩnh vực trọng tâm, ưu tiên để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, phù hợp với chiến lược của từng ngân hàng.
aa
Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro Dự đoán những ngân hàng dẫn đầu tăng trưởng tín dụng năm 2025 Nén lãi suất thấp, tiếp sức cho tăng trưởng tín dụng

Thông tin từ Đại hội đồng cổ đông, cả hai ngân hàng VietinBank và ABBank đều đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở mức cao, lên đến 16%, bám sát mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm nay.

Hé lộ chiến lược đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng

Trong năm 2025, ABBank đặt mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng ở mức 16%, đạt 127.810 tỷ đồng và mức tăng trưởng này cao hơn đáng kể con số 7,5% năm trước. Tỷ lệ này sẽ được điều chỉnh linh hoạt tùy theo hạn mức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cấp trong từng giai đoạn.

Trong đó, ABBank sẽ tập trung vào việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ để gia tăng lợi nhuận, với mục tiêu chiến lược là tăng tốc chuyển đổi số để nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng tín dụng.

Theo ông Phạm Duy Hiếu - Tổng giám đốc ABBank, hiện ngân hàng có nhiều thuận lợi trong ứng dụng các kênh số, đặc biệt là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ và cá nhân, với nhu cầu sử dụng kênh số ngày càng tăng. Cùng với đó, hợp tác với các công ty fintech được ngân hàng triển khai tích cực ngay trong quý đầu năm, phản ánh rõ trong kết quả kinh doanh.

Điều chỉnh chiến lược tín dụng, ABBank tập trung vào khách hàng vững mạnh

"Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng năm vừa qua đạt 7,5%. Trong cấu trúc của tăng trưởng tín dụng, ngân hàng có sự điều chỉnh, ưu tiên những khách hàng doanh nghiệp chiến lược, có sự vững vàng trong nền kinh tế. Còn tăng trưởng khách hàng cá nhân gặp vấn đề nợ xấu lớn, ngân hàng đã tiến hành thu hồi nợ và dư nợ sụt giảm từ 56 nghìn tỷ xuống 43 nghìn tỷ" - lãnh đạo ABBank cho biết.

Năm 2025, ABBank sẽ thiết kế các giải pháp tài chính chuyên biệt, đáp ứng nhu cầu từng phân khúc, tiếp đà thành công của chiến lược “am hiểu khách hàng” góp phần mang lại những kết quả kinh doanh tích cực của ABBank trong năm 2024.

Theo đó, tăng trưởng số lượng khách hàng mục tiêu năm vừa qua ở cả hai nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ lần lượt là 7,17% và 4,81% so với cùng kỳ.

Đặc biệt, việc cung cấp các giải pháp tài chính tiện ích, liên tục cải tiến nâng cao trải nghiệm của khách hàng với những tính năng thuận tiện trên ứng dụng ngân hàng số giúp quy mô giao dịch trên kênh số của ABBank ghi nhận sự tăng tăng trưởng tốt.

Hé mở mục tiêu tăng tín dụng 16%, nhiều ngân hàng dốc lực cho năm 2025
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Tại VietinBank, thông tin từ Đại hội đồng cổ đông, lãnh đạo ngân hàng cho biết sẽ ưu tiên các ngành thiết yếu trong định hướng tín dụng năm 2025 gồm điện, nước, lương thực, thực phẩm, chuỗi cung ứng tiêu dùng thiết yếu và tiêu thụ hàng hóa thiết yếu. Những lĩnh vực này được Chính phủ và NHNN ưu tiên để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

"NHNN phân bổ hạn mức tín dụng cho VietinBank khoảng 15% năm 2025. Nếu nền kinh tế tăng trưởng tốt thì mức tăng trưởng tín dụng của VietinBank có thể đạt trên 16%, huy động vốn phù hợp với tăng trưởng tín dụng" - lãnh đạo VietinBank nhận định.

Về kết quả kinh doanh hiện tại, lãnh đạo VietinBank cho biết, tính đến ngày 15/4, dù mức độ hấp thụ tín dụng trong những tháng đầu năm chưa cao, song dư nợ tín dụng của VietinBank đã tăng 4,7%, đạt 1,8 triệu tỷ đồng.

Dự đoán ngành phục hồi và ngành gặp khó

Đánh giá về triển vọng các ngành hút tín dụng năm 2025, theo Chủ tịch Hội đồng Quản trị VietinBank Trần Minh Bình, thị trường bất động sản đang cho thấy những tín hiệu hồi phục sau giai đoạn thanh lọc mạnh, với nguồn cung sản phẩm và số lượng giao dịch tăng lên rõ rệt. Vì vậy, ngành xây dựng và vật liệu xây dựng, vốn có liên hệ mật thiết với bất động sản, cũng đang phục hồi theo chiều hướng tích cực.

Hé mở mục tiêu tăng tín dụng 16%, nhiều ngân hàng dốc lực cho năm 2025
Nhiều ngân hàng hé mở mục tiêu tăng tín dụng 16%, dốc lực cho nhiều lĩnh vực trọng tâm. Ảnh tư liệu.

Mặt khác, một số ngành đang đối mặt với khó khăn. Đơn cử, ngành điện than có triển vọng tích cực chỉ trong ngắn hạn, vì về dài hạn, Việt Nam cam kết mạnh mẽ trong việc chuyển dịch năng lượng và giảm phát thải. Còn ngành gỗ hiện đang chịu ảnh hưởng lớn từ chính sách thuế quan đối ứng của Mỹ. Ngành dệt may có thể duy trì tình hình xuất khẩu ổn định sang Trung Quốc và EU, tuy nhiên, xuất khẩu sang Mỹ sẽ gặp nhiều khó khăn do thuế suất cao. Đây là những thách thức lớn đối với doanh nghiệp và sẽ ảnh hưởng đến chiến lược tín dụng của ngân hàng.

Dự đoán các mảng dẫn dắt tăng trưởng tín dụng

"Tín dụng cho lĩnh vực công nghiệp (chiếm 17,1% tổng dư nợ) sẽ được đẩy mạnh theo định hướng là một trong những động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng trong 2025. Với xu hướng tiêu dùng và du lịch hồi phục, tăng cường thu hút và phát triển các công ty công nghệ, dữ liệu, dòng tín dụng cho các hoạt động khác chiếm 40,4% tổng dư nợ cũng sẽ là động lực thúc đẩy tín dụng quan trọng. Nhóm này cho thấy tốc độ hấp thụ tín dụng luôn cao hơn mức trung bình ngành trong 5 năm qua" - nhóm phân tích TPS đánh giá.

Trong báo cáo cập nhật triển vọng ngành ngân hàng 2025 mang tựa đề: "Tăng trưởng bền bỉ giữa áp lực kép", Trung tâm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Tiên Phong (TPS) cũng đánh giá các mảng sẽ dẫn dắt tăng trưởng tín dụng trong 2025.

Về triển vọng thị trường bất động sản và đầu tư công, nhóm phân tích từ TPS kỳ vọng tín dụng vào ngành xây dựng (chiếm 7,7% tổng dư nợ) sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2025. Trước đó, trong năm 2024, do các dự án bất động sản chủ yếu bị chững lại về mặt pháp lý, dòng tiền vào nhóm cho vay bất động sản kinh doanh chỉ tăng 23% so với đầu năm, thấp hơn nhiều so với mức tăng 35% của năm 2023.

"Với kỳ vọng thị trường bất động sản hồi phục, tín dụng cho vay bất động sản kinh doanh sẽ tăng trở lại, trong khi tín dụng cho vay bất động sản tiêu dùng sẽ duy trì mức tăng trưởng hiện tại" - Chứng khoán TPS đánh giá.

Ở chiều ngược lại, nhóm phân tích từ TPS cho rằng, các ngành nghề như thương mại, vận tải và viễn thông, chiếm tổng 28,2% tổng dư nợ tín dụng, có thể sẽ chậm lại trong 2025 do xuất nhập khẩu sẽ chịu tác động ảnh hưởng từ chiến tranh thương mại và chính sách thuế của Tổng thống Trump./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,650 25,830 26,200
USD20 25,630 25,830 26,200
USD1 24,356 25,830 26,918
AUD 18,170 18,325 19,452
EUR 29,150 29,308 31,800
CAD 18,110 18,269 19,594
SGD 20,007 20,207 20,784
JPY 161.11 163.13 168.86
GBP 34,090 34,302 35,400
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/09/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30