Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings, nhiều ngân hàng vẫn chịu áp lực về chất lượng tài sản, vì vậy, năm 2025, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và an toàn hệ thống tiếp tục là điều cần lưu tâm.
aa
Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro
Nguồn: FiiinRating Đồ họa tư liệu

PV: Để tạo đà tăng trưởng kinh tế năm 2025 ở mức cao trên 8%, tạo tiền đề cho tăng trưởng hai con số nhiệm kỳ tới, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng lên 16%, cao nhất trong vòng nhiều năm. Ông nhận định thế nào về mục tiêu này và làm thế nào để bẻ lái dòng tín dụng đúng hướng, hỗ trợ tăng trưởng?

Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro

Ông Nguyễn Anh Quân: Chúng tôi đánh giá mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% là tham vọng, song khả năng đạt được là khả thi. Tuy nhiên, vấn đề lớn nằm ở việc phân bổ tín dụng vào lĩnh vực có mức độ hấp thụ vốn tốt và tiềm năng phát triển lớn, nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững cũng như duy trì rủi ro hệ thống ngân hàng ở mức chấp nhận được.

Để thực hiện mục tiêu vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao, vừa đảm bảo mục tiêu an toàn hệ thống, hay nói cách khác là tính bền vững của hệ thống, chúng tôi cho rằng, chúng ta nên cân nhắc triển khai các biện pháp trọng tâm.

Tín dụng tăng tốc, NIM vẫn có thể suy giảm

Sang năm 2025, kỳ vọng NIM của ngành sẽ có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ chủ yếu do hai yếu tố: (i) áp lực cạnh tranh về lãi suất cho vay giữa các ngân hàng và (ii) lãi suất huy động được kỳ vọng sẽ tăng nhẹ trong năm, buộc các ngân hàng phải tìm cách tối ưu hóa hiệu suất hoạt động, cắt giảm chi phí để duy trì lợi nhuận. Mặc dù vậy, với các chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, nhiều ngân hàng có thể sẽ vượt mức mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% là mục tiêu của toàn hệ thống, qua đó, mang lại lợi nhuận thấp hơn nhưng tiệm cận so với năm 2024".

Thứ nhất, đẩy mạnh việc áp dụng một cách hiệu quả khung quản trị tăng trưởng dựa theo rủi ro, không chỉ cho tăng trưởng mà còn phân bổ tín dụng theo rủi ro theo các quy định hiện có và các thông lệ tốt mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các ngân hàng thương mại đang triển khai theo Basel 3. Theo đó, lãi suất trên bình diện chung có thể không tăng nhưng nên chấp nhận một thực tế, nhiều ngành, lĩnh vực và những khách hàng cụ thể có thể có mức lãi suất cao hơn đáng kể so với mức lãi cho vay bình quân, tùy theo chất lượng tín dụng và điểm xếp hạng tín dụng của từng khách hàng và tùy theo khẩu vị rủi ro, chiến lược phát triển từng ngân hàng thương mại.

Thứ hai, cần khẩn trương bổ sung, tăng năng lực vốn và bộ đệm vốn cho các ngân hàng thương mại, bởi nhu cầu tăng trưởng tín dụng lớn, trong khi tỷ lệ an toàn vốn của ngành Ngân hàng hiện khá thấp. Đây là yếu tố quan trọng để thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ và NHNN về việc hạ lãi suất huy động.

Về những lĩnh vực dự kiến hút dòng vốn tín dụng năm nay, chúng tôi cho rằng nhu cầu tín dụng đến từ ba ngành chủ chốt. Một là, công nghiệp chế biến chế tạo, do vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xu hướng mở rộng sản xuất. Hai là, xây dựng, do nhu cầu vốn trong lĩnh vực xây dựng dự kiến sẽ có sự gia tăng với nhiều dự án hạ tầng đang và sẽ được triển khai. Ba là, bất động sản dân cư do mảng bán lẻ được kỳ vọng sẽ phục hồi nhất định trong năm 2025, cùng sự hồi phục của nền kinh tế.

PV: Năm vừa qua cũng được xem là một năm thành công trong điều hành tăng trưởng tín dụng khi đạt mục tiêu của NHNN, nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn trung bình toàn ngành với bức tranh lợi nhuận sáng sủa. Theo ông, điều gì giúp tăng trưởng tín dụng bứt tốc ngoạn mục và bài học để lại cho năm nay là gì?

Ông Nguyễn Anh Quân: Năm 2024, NHNN triển khai các chính sách điều hành linh hoạt trong năm nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bên cạnh các chính sách hỗ trợ khác. Chẳng hạn, giảm thiểu yêu cầu về phương án sử dụng vốn với các khoản cấp tín dụng có giá trị nhỏ quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Đồng thời, giảm thiểu yêu cầu về phương án sử dụng vốn với các khoản vay dưới 100 triệu đồng tại Thông tư 12/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024… Ngoài ra, NHNN thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm giảm mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt trong các lĩnh vực tiêu dùng, xuất khẩu, chuyển đổi số và công nghệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo số liệu từ NHNN, tính đến ngày 31/12/2024, tín dụng nền kinh tế tăng 15,08% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, vấn đề tồn tại là tín dụng vẫn tập trung ở các doanh nghiệp lớn và đặc biệt là ngành bất động sản tăng trưởng 28,5% năm 2024, tức gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng chung.

Tăng trưởng tín dụng khả quan trong năm 2024 đóng góp tích cực vào bức tranh lợi nhuận của nhiều ngân hàng, trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) của ngành tiếp tục xu hướng giảm trong năm 2024, sau khi có sự suy giảm đáng kể trong năm 2023, cùng các nguồn thu ngoài lãi phục hồi tương đối chậm.

PV: Trong bối cảnh tín dụng mở bung hơn so với nhiều năm, song thông tư gia hạn, cơ cấu nợ hết hạn cùng nhiều ngân hàng đã giảm tỷ lệ trích lập nợ xấu, ông đánh giá thế nào về chất lượng tài sản các ngân hàng?

Ông Nguyễn Anh Quân: Về chất lượng tài sản, chúng tôi nhìn nhận một số điểm tương đối tích cực. Theo đó, tỷ lệ nợ có vấn đề được báo cáo, bao gồm nợ nhóm 2 - 5 và nợ xấu chuyển giao cho VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) có sự ổn định trong vài quý vừa qua.

Cùng với đó, chúng tôi đã nêu quan điểm về việc Thông tư 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 không được gia hạn sẽ có tác động không đáng kể đến tỷ lệ nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, theo dữ liệu chúng tôi tổng hợp, mức độ trích lập bao phủ nợ xấu cũng tăng lên đáng kể, đến từ việc các ngân hàng thực hiện xóa sổ nợ xấu tương đối mạnh trong năm 2024.

Tuy nhiên, bất chấp những yếu tố tích cực này, chúng tôi vẫn bảo lưu quan điểm được nêu trong các báo cáo ngành Ngân hàng trước của FiinRatings với các nhà đầu tư, đó là chất lượng tài sản của ngành sẽ vẫn phải chịu những áp lực nhất định từ giai đoạn trước.

PV: Xin cảm ơn ông!

Áp lực chất lượng tài sản xảy ra với cả ngân hàng tư nhân lớn

Theo ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings, khoảng cách đáng kể giữa tăng trưởng nợ có vấn đề và tăng trưởng cho vay cho thấy áp lực đang diễn ra với chất lượng tài sản. Trong năm 2025, các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng nhỏ và một số ngân hàng tư nhân lớn có tỷ lệ nợ xấu và nợ có vấn đề, cũng như tỷ lệ nợ cơ cấu theo Thông tư 02/2023/TT-NHNN cao hơn mức trung bình ngành, sẽ tiếp tục đối mặt với áp lực về chất lượng tài sản.

Trong giai đoạn năm 2022 và 3 quý đầu năm 2024, chuyên gia FiinRatings nhận thấy tốc độ tăng trưởng cho vay trong ngành thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng nợ xấu (bao gồm cả nợ nhóm 3 - 5 và VAMC) và chỉ cao hơn tốc độ tăng trưởng nợ có vấn đề (nợ nhóm 2 - 5 và VAMC) từ nửa cuối năm 2023, với tác động của Thông tư 02 giúp làm giảm tăng trưởng nợ xấu và nợ có vấn đề.

Hơn nữa, trong năm 2024, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhiều ngân hàng giảm đáng kể, từ mức trên 90% tại thời điểm cuối năm 2023 xuống khoảng 80% trong 3 quý, trước khi quay lại ngưỡng trên 90% cuối năm 2024. Dù tỷ lệ bao phủ phục hồi, trên thực tế, tổng mức trích lập của các ngân hàng năm 2024 giảm nhẹ so với năm 2023 và tỷ lệ bao phủ được cải thiện phần lớn đến từ việc các ngân hàng thực hiện xóa sổ đáng kể các khoản nợ xấu. Năm 2023 và 2024 có mức nợ xấu xóa sổ cao nhất nhì trong 7 năm gần đây kể từ năm 2017.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80