Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Theo ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings, nhiều ngân hàng vẫn chịu áp lực về chất lượng tài sản, vì vậy, năm 2025, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và an toàn hệ thống tiếp tục là điều cần lưu tâm.
aa
Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro
Nguồn: FiiinRating Đồ họa tư liệu

PV: Để tạo đà tăng trưởng kinh tế năm 2025 ở mức cao trên 8%, tạo tiền đề cho tăng trưởng hai con số nhiệm kỳ tới, tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng lên 16%, cao nhất trong vòng nhiều năm. Ông nhận định thế nào về mục tiêu này và làm thế nào để bẻ lái dòng tín dụng đúng hướng, hỗ trợ tăng trưởng?

Tín dụng bứt tốc, bài toán cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát rủi ro

Ông Nguyễn Anh Quân: Chúng tôi đánh giá mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% là tham vọng, song khả năng đạt được là khả thi. Tuy nhiên, vấn đề lớn nằm ở việc phân bổ tín dụng vào lĩnh vực có mức độ hấp thụ vốn tốt và tiềm năng phát triển lớn, nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững cũng như duy trì rủi ro hệ thống ngân hàng ở mức chấp nhận được.

Để thực hiện mục tiêu vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cao, vừa đảm bảo mục tiêu an toàn hệ thống, hay nói cách khác là tính bền vững của hệ thống, chúng tôi cho rằng, chúng ta nên cân nhắc triển khai các biện pháp trọng tâm.

Tín dụng tăng tốc, NIM vẫn có thể suy giảm

Sang năm 2025, kỳ vọng NIM của ngành sẽ có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ chủ yếu do hai yếu tố: (i) áp lực cạnh tranh về lãi suất cho vay giữa các ngân hàng và (ii) lãi suất huy động được kỳ vọng sẽ tăng nhẹ trong năm, buộc các ngân hàng phải tìm cách tối ưu hóa hiệu suất hoạt động, cắt giảm chi phí để duy trì lợi nhuận. Mặc dù vậy, với các chính sách hỗ trợ tăng trưởng kinh tế tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh, nhiều ngân hàng có thể sẽ vượt mức mục tiêu tăng trưởng tín dụng 16% là mục tiêu của toàn hệ thống, qua đó, mang lại lợi nhuận thấp hơn nhưng tiệm cận so với năm 2024".

Thứ nhất, đẩy mạnh việc áp dụng một cách hiệu quả khung quản trị tăng trưởng dựa theo rủi ro, không chỉ cho tăng trưởng mà còn phân bổ tín dụng theo rủi ro theo các quy định hiện có và các thông lệ tốt mà Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các ngân hàng thương mại đang triển khai theo Basel 3. Theo đó, lãi suất trên bình diện chung có thể không tăng nhưng nên chấp nhận một thực tế, nhiều ngành, lĩnh vực và những khách hàng cụ thể có thể có mức lãi suất cao hơn đáng kể so với mức lãi cho vay bình quân, tùy theo chất lượng tín dụng và điểm xếp hạng tín dụng của từng khách hàng và tùy theo khẩu vị rủi ro, chiến lược phát triển từng ngân hàng thương mại.

Thứ hai, cần khẩn trương bổ sung, tăng năng lực vốn và bộ đệm vốn cho các ngân hàng thương mại, bởi nhu cầu tăng trưởng tín dụng lớn, trong khi tỷ lệ an toàn vốn của ngành Ngân hàng hiện khá thấp. Đây là yếu tố quan trọng để thực hiện tốt chủ trương của Chính phủ và NHNN về việc hạ lãi suất huy động.

Về những lĩnh vực dự kiến hút dòng vốn tín dụng năm nay, chúng tôi cho rằng nhu cầu tín dụng đến từ ba ngành chủ chốt. Một là, công nghiệp chế biến chế tạo, do vai trò quan trọng trong nền kinh tế và xu hướng mở rộng sản xuất. Hai là, xây dựng, do nhu cầu vốn trong lĩnh vực xây dựng dự kiến sẽ có sự gia tăng với nhiều dự án hạ tầng đang và sẽ được triển khai. Ba là, bất động sản dân cư do mảng bán lẻ được kỳ vọng sẽ phục hồi nhất định trong năm 2025, cùng sự hồi phục của nền kinh tế.

PV: Năm vừa qua cũng được xem là một năm thành công trong điều hành tăng trưởng tín dụng khi đạt mục tiêu của NHNN, nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng trưởng cao hơn trung bình toàn ngành với bức tranh lợi nhuận sáng sủa. Theo ông, điều gì giúp tăng trưởng tín dụng bứt tốc ngoạn mục và bài học để lại cho năm nay là gì?

Ông Nguyễn Anh Quân: Năm 2024, NHNN triển khai các chính sách điều hành linh hoạt trong năm nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bên cạnh các chính sách hỗ trợ khác. Chẳng hạn, giảm thiểu yêu cầu về phương án sử dụng vốn với các khoản cấp tín dụng có giá trị nhỏ quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng 2024. Đồng thời, giảm thiểu yêu cầu về phương án sử dụng vốn với các khoản vay dưới 100 triệu đồng tại Thông tư 12/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024… Ngoài ra, NHNN thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm giảm mặt bằng lãi suất cho vay, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc duy trì lãi suất cho vay ở mức thấp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt trong các lĩnh vực tiêu dùng, xuất khẩu, chuyển đổi số và công nghệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo số liệu từ NHNN, tính đến ngày 31/12/2024, tín dụng nền kinh tế tăng 15,08% so với cuối năm 2023. Tuy nhiên, vấn đề tồn tại là tín dụng vẫn tập trung ở các doanh nghiệp lớn và đặc biệt là ngành bất động sản tăng trưởng 28,5% năm 2024, tức gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng chung.

Tăng trưởng tín dụng khả quan trong năm 2024 đóng góp tích cực vào bức tranh lợi nhuận của nhiều ngân hàng, trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) của ngành tiếp tục xu hướng giảm trong năm 2024, sau khi có sự suy giảm đáng kể trong năm 2023, cùng các nguồn thu ngoài lãi phục hồi tương đối chậm.

PV: Trong bối cảnh tín dụng mở bung hơn so với nhiều năm, song thông tư gia hạn, cơ cấu nợ hết hạn cùng nhiều ngân hàng đã giảm tỷ lệ trích lập nợ xấu, ông đánh giá thế nào về chất lượng tài sản các ngân hàng?

Ông Nguyễn Anh Quân: Về chất lượng tài sản, chúng tôi nhìn nhận một số điểm tương đối tích cực. Theo đó, tỷ lệ nợ có vấn đề được báo cáo, bao gồm nợ nhóm 2 - 5 và nợ xấu chuyển giao cho VAMC (Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam) có sự ổn định trong vài quý vừa qua.

Cùng với đó, chúng tôi đã nêu quan điểm về việc Thông tư 02/2023/TT-NHNN ngày 23/4/2023 không được gia hạn sẽ có tác động không đáng kể đến tỷ lệ nợ xấu chung của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, theo dữ liệu chúng tôi tổng hợp, mức độ trích lập bao phủ nợ xấu cũng tăng lên đáng kể, đến từ việc các ngân hàng thực hiện xóa sổ nợ xấu tương đối mạnh trong năm 2024.

Tuy nhiên, bất chấp những yếu tố tích cực này, chúng tôi vẫn bảo lưu quan điểm được nêu trong các báo cáo ngành Ngân hàng trước của FiinRatings với các nhà đầu tư, đó là chất lượng tài sản của ngành sẽ vẫn phải chịu những áp lực nhất định từ giai đoạn trước.

PV: Xin cảm ơn ông!

Áp lực chất lượng tài sản xảy ra với cả ngân hàng tư nhân lớn

Theo ông Nguyễn Anh Quân - Chuyên gia phân tích kiêm Phụ trách Xếp hạng Khối Định chế tài chính, FiinRatings, khoảng cách đáng kể giữa tăng trưởng nợ có vấn đề và tăng trưởng cho vay cho thấy áp lực đang diễn ra với chất lượng tài sản. Trong năm 2025, các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng nhỏ và một số ngân hàng tư nhân lớn có tỷ lệ nợ xấu và nợ có vấn đề, cũng như tỷ lệ nợ cơ cấu theo Thông tư 02/2023/TT-NHNN cao hơn mức trung bình ngành, sẽ tiếp tục đối mặt với áp lực về chất lượng tài sản.

Trong giai đoạn năm 2022 và 3 quý đầu năm 2024, chuyên gia FiinRatings nhận thấy tốc độ tăng trưởng cho vay trong ngành thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng nợ xấu (bao gồm cả nợ nhóm 3 - 5 và VAMC) và chỉ cao hơn tốc độ tăng trưởng nợ có vấn đề (nợ nhóm 2 - 5 và VAMC) từ nửa cuối năm 2023, với tác động của Thông tư 02 giúp làm giảm tăng trưởng nợ xấu và nợ có vấn đề.

Hơn nữa, trong năm 2024, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhiều ngân hàng giảm đáng kể, từ mức trên 90% tại thời điểm cuối năm 2023 xuống khoảng 80% trong 3 quý, trước khi quay lại ngưỡng trên 90% cuối năm 2024. Dù tỷ lệ bao phủ phục hồi, trên thực tế, tổng mức trích lập của các ngân hàng năm 2024 giảm nhẹ so với năm 2023 và tỷ lệ bao phủ được cải thiện phần lớn đến từ việc các ngân hàng thực hiện xóa sổ đáng kể các khoản nợ xấu. Năm 2023 và 2024 có mức nợ xấu xóa sổ cao nhất nhì trong 7 năm gần đây kể từ năm 2017.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

Làn sóng gom vàng chưa dứt, WGC gợi mở cách đánh thức vàng "gối đầu giường"

(TBTCO) - Thông tin từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy, ngân hàng trung ương toàn cầu tiếp tục gom vàng mạnh quý I/2026 với lượng mua ròng 244 tấn, dù có áp lực bán ra từ một số quốc gia. Về đề xuất huy động hàng tấn vàng "gối đầu giường" trong dân, chuyên gia WGC gợi mở kinh nghiệm quốc tế về mở rộng vai trò của ngân hàng và phát triển các dịch vụ tài chính liên quan đến vàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80